Pular para o conteúdo
Publicidade

10 Milagres de Jesus na Bíblia: Lista com versículos e explicação

Por Bíblia Online

Os milagres de Jesus são muito mais do que demonstrações de poder sobrenatural; eles são sinais que confirmam sua divindade e missão. Ao longo dos Evangelhos, vemos Cristo curando enfermos, dominando a natureza e vencendo a morte.

Neste guia, selecionamos 10 milagres de Jesus na Bíblia, organizados com referências e uma breve explicação sobre o impacto espiritual de cada um deles.

Os principais milagres de Jesus nos Evangelhos

1. Transformação da Água em Vinho

  • Referência: João 2:1-11

  • Explicação: Ocorreu nas Bodas de Caná. Sendo o seu primeiro milagre público, Jesus demonstrou autoridade sobre a matéria e a natureza, revelando sua glória aos discípulos e abençoando a instituição da família.

Cách ba ngày sau, đám cưới tại thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, mẹ Đức Chúa Jêsus tại đó. Đức Chúa Jêsus cũng được mời đến dự đám với môn đồ Ngài. Vừa khi thiếu rượu, mẹ Đức Chúa Jêsus nói với Ngài rằng: Người ta không rượu nữa. Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi đàn kia, ta với ngươi sự chăng? Giờ ta chưa đến. Mẹ Ngài nói với những kẻ hầu bàn rằng: Người biểu chi, hãy vâng theo cả. Vả, tại đó sáu cái ché đá, định dùng về sự rửa sạch cho người Giu-đa, mỗi cái chứa hai ba lường nước. Đức Chúa Jêsus biểu họ rằng: Hãy đổ nước đầy những ché nầy; thì họ đổ đầy tới miệng. Ngài bèn phán rằng: Bây giờ hãy múc đi, đem cho kẻ coi tiệc. Họ bèn đem cho. Lúc kẻ coi tiệc nếm nước đã biến thành rượu (vả, người không biết rượu nầy đến bởi đâu, còn những kẻ hầu bàn múc nước thì biết ), bèn gọi chàng rể, nói rằng: Mọi người đều đãi rượu ngon trước, sau khi người ta uống nhiều rồi, thì kế đến rượu vừa vừa. Còn ngươi, ngươi lại giữ rượu ngon đến bây giờ. Aáy tại Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, Đức Chúa Jêsus làm phép lạ thứ nhất, tỏ bày sự vinh hiển của mình như vậy; môn đồ bèn tin Ngài.

2. Cura do cego de nascença

  • Referência: João 9:1-12

  • Explicação: Jesus usa lodo para curar um homem que nunca havia enxergado. Este milagre prova que Ele é a Luz do Mundo e tem poder para restaurar o que nasceu com defeito.

Đức Chúa Jêsus vừa đi qua, thấy một người từ thuở sanh ra. Môn đồ hỏi Ngài rằng: Thưa thầy ai đã phạm tội, người hay cha mẹ người, người sanh ra thì như vậy? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Đó chẳng phải tại người hay tại cha mẹ đã phạm tội; nhưng ấy để cho những việc Đức Chúa Trời được tỏ ra trong người. Trong khi còn ban ngày, ta phải làm trọn những việc của Đấng đã sai ta đến; tối lại, thì không ai làm việc được. Đang khi ta còn thế gian, ta sự sáng của thế gian. Nói xong, Ngài nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, đem xức trên mắt người . Đoạn, Ngài phán cùng người rằng: Hãy đi, rửa nơi ao Si-lô-ê (nghĩa chịu sai đi). Vậy, người đi đến ao đó, rửa, trở lại, thì được thấy . Xóm giềng người những kẻ trước kia từng thấy người đi ăn mày đều nói rằng: Nầy phải người vẫn ngồi ăn xin đó chăng? Người thì nói: Aáy hắn; kẻ lại nói: Không phải, song một người nào giống hắn. Người nói rằng: Chính tôi đây. Chúng bèn hỏi người rằng: Tại sao mắt ngươi đã mở được? Người trả lời rằng: Người tên gọi Jêsus kia đã hòa bùn, xức mắt tôi, nói rằng: Hãy đi đến rửa nơi ao Si-lô-ê. Vậy, tôi đi đến, rửa tại đó, rồi thấy được. Chúng hỏi rằng: Người ấy đâu? Người trả lời rằng: Tôi không biết.

3. Multiplicação dos pães e peixes

  • Referência: Mateus 14:13-21

  • Explicação: Com apenas cinco pães e dois peixes, Jesus alimentou mais de 5 mil homens. Este sinal revela Cristo como o Pão da Vida, aquele que supre todas as nossas necessidades.

Đức Chúa Jêsus vừa nghe tin ấy liền bỏ đó xuống thuyền, đi tẻ ra nơi đồng vắng. Khi đoàn dân biết vậy, thì từ các thành đi bộ theo Ngài. Ngài thuyền bước lên, thấy đoàn dân đông đúc, động lòng thương xót, chữa cho kẻ bịnh được lành. Đến chiều tối, môn đồ tới gần Ngài thưa rằng: đây vắng vẻ, trời tối rồi, xin thầy cho dân chúng về, để họ đi vào các làng đặng mua đồ ăn. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Không cần họ phải đi; chính các ngươi hãy cho họ ăn. Môn đồ thưa rằng: Chúng tôi đây năm cái bánh hai con thôi. Ngài phán rằng: Hãy đem đây cho ta. Ngài bèn truyền cho chúng ngồi xuống trên cỏ, đoạn, lấy năm cái bánh hai con đó, ngửa mặt lên trời tạ ơn; rồi bẻ bánh ra đưa cho môn đồ, môn đồ phát cho dân chúng. Ai nấy đều ăn no, còn bánh thừa lại thâu được đầy mười hai giỏ. Số người ăn ước chừng năm ngàn, không kể đàn con nít.

4. Jesus acalma a tempestade

  • Referência: Marcos 4:35-41

  • Explicação: Com uma ordem, o vento e o mar se aquietam. O milagre ensina sobre a paz que excede o entendimento e a autoridade do Messias sobre a criação.

Đến chiều ngày ấy, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy qua bờ bên kia. Khi cho dân chúng tan về rồi, Đức Chúa Jêsus cứ trong thuyền, môn đồ đưa Ngài đi; cũng các thuyền khác cùng đi nữa. Vả, cơn bão lớn nổi lên, sóng tạt vào thuyền, đến nỗi gần đầy nước; nhưng Ngài đang đằng sau lái, dựa gối ngủ. Môn đồ thức Ngài dậy thưa rằng: Thầy ôi, thầy không lo chúng ta chết sao? Ngài bèn thức dậy, quở gió phán cùng biển rằng: Hãy êm đi, lặng đi! Gió liền dứt đều yên lặng như tờ. Đoạn, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi sợ? Chưa đức tin sao? Môn đồ kinh hãi lắm, nói với nhau rằng: Vậy thì người nầy ai, gió biển cũng đều vâng lịnh người?

5. Cura da mulher com fluxo de sangue

  • Referência: Marcos 5:25-34

  • Explicação: Uma cura que aconteceu pelo toque da fé. Jesus mostra que está atento ao sofrimento individual e que a fé é o canal para receber o milagre.

Vả, tại đó một người đàn bị bịnh mất huyết đã mười hai năm, bấy lâu chịu khổ sở trong tay nhiều thầy thuốc, hao tốn hết tiền của, không thấy đỡ ; bịnh lại càng nặng thêm. Người đã nghe tin về Đức Chúa Jêsus, bèn lẩn vào đằng sau giữa đám đông, rờ áo Ngài. người nói rằng: Nếu ta chỉ rờ đến áo Ngài thôi, thì ta sẽ được lành. Cùng một lúc ấy, huyết lậu liền cầm lại; người nghe trong mình đã được lành bịnh. Tức thì Đức Chúa Jêsus tự biết sức mạnh đã ra từ mình, bèn xây lại giữa đám đông hỏi rằng: Ai đã rờ áo ta? Môn đồ thưa rằng: Thầy thấy đám đông lấn ép thầy, thầy còn hỏi rằng: Ai rờ đến ta? Ngài nhìn chung quanh mình để xem người đã làm điều đó. Người đàn biết sự đã xảy đến cho mình, bèn run sợ đến gieo mình dưới chân Ngài, tỏ hết tình thật. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi con gái ta, đức tin con đã cứu con; hãy đi cho bình an được lành bịnh.

6. Libertação do endemoninhado Gadareno

  • Referência: Marcos 5:1-20

  • Explicação: Jesus liberta um homem dominado por uma legião de espíritos. É a prova clara de sua autoridade absoluta sobre o reino das trevas.

Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ qua đến bờ biển bên kia, trong miền Giê-ra-sê. Ngài mới trên thuyền bước xuống, tức thì một người bị ma ám từ nơi mồ mả đi ra đến trước mặt Ngài. Người thường nơi mồ mả, dẫu dùng xiềng sắt cũng chẳng ai cột trói được nữa; nhiều lần người bị cùm chân hoặc bị xiềng, rồi bẻ xiềng tháo cùm, không ai sức trị được. Người cứ nơi mồ mả trên núi, ngày đêm kêu la lấy đá đánh bầm mình. Người thấy Đức Chúa Jêsus đằng xa, chạy lại sấp mình xuống trước mặt Ngài, kêu lớn rằng: Hỡi Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời rất cao, tôi với Ngài sự chăng? Tôi nhân danh Đức Chúa Trời khẩn cầu Ngài, xin đừng làm khổ tôi. Đức Chúa Jêsus vừa phán cùng rằng: Hỡi ma, phải ra khỏi người nầy. Ngài lại hỏi rằng: Mầy tên ? Thưa rằng: Tên tôi Quân đội; chúng tôi đông. lại van xin Ngài đừng đuổi chúng ra khỏi miền đó. Vả, chỗ đó, tại trên núi, một bầy heo đông đang ăn. Các quỉ cầu xin Ngài rằng: Xin khiến chúng tôi đến với bầy heo ấy, để chúng tôi nhập vào chúng . Đức Chúa Jêsus cho phép. Các ma ra khỏi người đó, bèn nhập vào bầy heo, bầy heo từ trên bực cao vụt đâm đầu xuống biển. độ hai ngàn con heo chết chìm cả dưới biển. Những kẻ chăn heo trốn, đồn tin nầy ra khắp trong thành trong nhà quê; dân sự đổ ra đặng xem điều đã xảy đến. Vậy, chúng đến cùng Đức Chúa Jêsus, thấy người đã bị nhiều quỉ ám, đang ngồi, mặc quần áo, trí khôn bình tĩnh, thì sợ hãi lắm. Những người đã thấy việc đó, thuật cho họ nghe chuyện đã xảy đến cho kẻ bị quỉ ám bầy heo. Chúng bèn xin Ngài ra khỏi địa phận mình. Lúc Ngài đang bước vào thuyền, người trước đã bị quỉ ám xin lại với Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus không cho, phán rằng: Hãy về nhà ngươi, nơi bạn hữu ngươi, thuật lại cho họ điều lớn lao thể nào Chúa đã làm cho ngươi, Ngài đã thương xót ngươi cách nào. Vậy, người đi, đồn ra trong xứ Đê-ca-bô-lơ những điều lớn lao thể nào Đức Chúa Jêsus đã làm cho mình; ai nấy đều lấy làm lạ.

7. Ressurreição da filha de Jairo

  • Referência: Marcos 5:21-43

  • Explicação: Jesus demonstra que a morte para Ele é como o sono. Ele restaura a vida de uma criança, trazendo esperança para uma família desesperada.

Khi Đức Chúa Jêsus lại xuống thuyền qua bờ bên kia, đoàn dân đông nhóm họp chung quanh Ngài. Ngài đứng trên bờ biển. Bấy giờ, một người trong những người cai nhà hội, tên Giai ru, đến, thấy Đức Chúa Jêsus, bèn gieo mình nơi chân Ngài; nài xin rằng: Con gái nhỏ tôi gần chết; xin Chúa đến, đặt tay trên , đặng lành mạnh sống. Đức Chúa Jêsus đi với người; đoàn dân đông cùng đi theo lấn ép Ngài. Vả, tại đó một người đàn bị bịnh mất huyết đã mười hai năm, bấy lâu chịu khổ sở trong tay nhiều thầy thuốc, hao tốn hết tiền của, không thấy đỡ ; bịnh lại càng nặng thêm. Người đã nghe tin về Đức Chúa Jêsus, bèn lẩn vào đằng sau giữa đám đông, rờ áo Ngài. người nói rằng: Nếu ta chỉ rờ đến áo Ngài thôi, thì ta sẽ được lành. Cùng một lúc ấy, huyết lậu liền cầm lại; người nghe trong mình đã được lành bịnh. Tức thì Đức Chúa Jêsus tự biết sức mạnh đã ra từ mình, bèn xây lại giữa đám đông hỏi rằng: Ai đã rờ áo ta? Môn đồ thưa rằng: Thầy thấy đám đông lấn ép thầy, thầy còn hỏi rằng: Ai rờ đến ta? Ngài nhìn chung quanh mình để xem người đã làm điều đó. Người đàn biết sự đã xảy đến cho mình, bèn run sợ đến gieo mình dưới chân Ngài, tỏ hết tình thật. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi con gái ta, đức tin con đã cứu con; hãy đi cho bình an được lành bịnh. Đang khi Ngài còn phán, kẻ đến từ nhà người cai nhà hội nói với người rằng: Con gái ông đã chết rồi; còn phiền Thầy làm chi? Nhưng Đức Chúa Jêsus chẳng màng đến lời ấy, phán cùng cai nhà hội rằng: Đừng sợ, chỉ tin thôi. Ngài chẳng cho ai theo mình, trừ ra Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng em Gia-cơ. Khi đã đến nhà người cai nhà hội, Ngài thấy chúng làm om sòm, kẻ khóc người kêu lớn tiếng. Vào nhà rồi, Ngài phán cùng chúng rằng: Sao các ngươi làm ồn ào khóc lóc vậy? Đứa trẻ chẳng phải chết, song ngủ. Chúng nhạo báng Ngài. Ngài bèn đuổi chúng ra hết, đem cha mẹ đứa trẻ với những kẻ theo Ngài, cùng vào chỗ nằm. Ngài nắm tay phán rằng: Ta-li-tha Cu-mi; nghĩa : Hỡi con gái nhỏ, ta truyền cho mầy, hãy chờ dậy. Tức thì đứa gái chờ dậy bước đi, đã lên mười hai tuổi. Chúng rất lấy làm lạ. Ngài cấm ngặt chúng đừng cho ai biết sự ấy, truyền cho đứa trẻ ăn.

8. Jesus anda sobre as águas

  • Referência: Mateus 14:22-33

  • Explicação: Ao caminhar sobre o Mar da Galileia, Jesus mostra que não está sujeito às leis da física. O episódio também serve para tratar a fé e a dúvida no coração de Pedro.

Kế đó, Ngài liền hối môn đồ xuống thuyền, qua trước bờ bên kia, trong khi Ngài đang truyền cho dân chúng tan đi. Xong rồi, Ngài lên núi để cầu nguyện riêng; đến chiều tối, Ngài đó một mình. Bấy giờ, thuyền đã ra giữa biển rồi, gió ngược, nên bị sóng vỗ. Song đến canh đêm ấy, Đức Chúa Jêsus đi bộ trên mặt biển đến cùng môn đồ. Khi thấy Ngài đi bộ trên mặt biển, thì môn đồ bối rối nói rằng: Aáy một con ma; rồi sợ hãi la lên. Nhưng Đức Chúa Jêsus liền phán rằng: Các ngươi hãy yên lòng; ấy ta đây, đừng sợ! Phi-e-rơ bèn thưa rằng: Lạy Chúa, nếu phải Chúa, xin khiến tôi đi trên mặt nước đến cùng Chúa. Ngài phán rằng: Hãy lại đây! Phi-e-rơ trên thuyền bước xuống, đi bộ trên mặt nước đến cùng Đức Chúa Jêsus. Song khi thấy gió thổi, thì Phi-e-rơ sợ hãi, hòng sụp xuống nước, bèn la lên rằng: Chúa ơi, xin cứu lấy tôi! Tức thì Đức Chúa Jêsus giơ tay ra nắm lấy người, nói rằng: Hỡi người ít đức tin, sao ngươi hồ nghi làm vậy? Ngài cùng Phi-e-rơ lên thuyền rồi, thì gió yên lặng. Các người trong thuyền bèn đến quì lạy Ngài nói rằng: Thầy thật Con Đức Chúa Trời!

9. Cura do paralítico

  • Referência: Marcos 2:1-12

  • Explicação: Jesus cura o corpo, mas primeiro perdoa os pecados. Este milagre estabelece que sua missão principal é a reconciliação espiritual do homem com Deus.

Khỏi một vài ngày, Đức Chúa Jêsus trở vào thành Ca-bê-na-um, chúng nghe nói Ngài trong nhà. Họ họp lại tại đó đông lắm, đến nỗi trước cửa cũng không còn chỗ trống; Ngài giảng đạo cho họ nghe. Bấy giờ mấy kẻ đem tới cho Ngài một người đau bại, bốn người khiêng. Nhưng, đông người, không lại gần Ngài được, nên dở mái nhà ngay chỗ Ngài ngồi, rồi do lỗ đó dòng giường người bại nằm xuống. Đức Chúa Jêsus thấy đức tin họ, bèn phán cùng kẻ bại rằng: Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha. Vả, mấy thầy thông giáo ngồi đó, nghĩ thầm rằng: Sao người nầy nói như vậy? Người nói phạm thượng đó! Ngoài một mình Đức Chúa Trời, còn ai tha tội được chăng? Đức Chúa Jêsus trong trí đã hiểu họ tự nghĩ như vậy, tức thì phán rằng: Sao các ngươi bàn luận trong lòng thể ấy? Nay bảo kẻ bại rằng: Tội ngươi đã được tha; hay bảo người rằng: Hãy đứng dậy vác giường đi; hai điều ấy điều nào dễ hơn? Vả, để cho các ngươi biết Con người thế gian quyền tha tội, thì Ngài phán cùng kẻ bại rằng: Ta biểu ngươi, hãy đứng dậy, vác giường đi về nhà. Kẻ bại đứng dậy, tức thì vác giường đi ra trước mặt thiên hạ; đến nỗi ai nấy đều lấy làm lạ, ngợi khen Đức Chúa Trời, rằng: Chúng tôi chưa hề thấy việc thể nầy.

10. Ressurreição de Lázaro

  • Referência: João 11:1-44

  • Explicação: O milagre mais impactante antes da crucificação. Ao ressuscitar alguém morto há quatro dias, Jesus declara: "Eu sou a ressurreição e a vida".

một người đau, tên La-xa-rơ, Bê-tha-ni, làng của Ma-ri chị người Ma-thê. Ma-ri người đã xức dầu thơm cho Chúa, lấy tóc mình lau chân Ngài; chính anh người La-xa-rơ đang đau. Vậy, hai chị em sai người đến thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nầy, kẻ Chúa yêu mắc bịnh. Đức Chúa Jêsus vừa nghe lời đó, bèn phán rằng: Bịnh nầy không đến chết đâu, nhưng sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, hầu cho Con Đức Chúa Trời bởi đó được sáng danh. Vả, Đức Chúa Jêsus yêu Ma-thê, em người, La-xa-rơ. Khi Ngài nghe người nầy đau, bèn lại hai ngày nữa trong nơi Ngài đang . Rồi đó, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy trở về xứ Giu-đê. Môn đồ thưa rằng: Thưa thầy, hôm trước dân Giu-đa tìm ném đá thầy, thầy còn trở lại nơi họ sao! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Trong ban ngày chẳng phải mười hai giờ sao? Nếu ai đi ban ngày, thì không vấp, thấy sự sáng của thế gian nầy. Nhưng nếu ai đi ban đêm, thì vấp, không sự sáng. Ngài phán như vậy, rồi tiếp rằng: La-xa-rơ, bạn ta, đang ngủ; nhưng ta đi đánh thức người. Môn đồ thưa rằng: Thưa Chúa, nếu người ngủ, chắc sẽ được lành. Vả, Đức Chúa Jêsus phán lời đó chỉ về sự chết của La-xa-rơ; song môn đồ tưởng nói về giấc ngủ thường. Đức Chúa Jêsus bèn nói tỏ tường cùng môn đồ rằng: La-xa-rơ chết rồi. Ta các ngươi mừng không ta tại đó, để cho các ngươi tin; nhưng chúng ta hãy đi đến cùng người. Nhân đó, Thô-ma, gọi Đi-đim, nói với môn đồ khác rằng: Chúng ta cũng hãy đi tới đó đặng chết với Ngài! Khi Đức Chúa Jêsus đến nơi, thấy đã chôn La-xa-rơ trong mộ bốn ngày rồi. Vả, thành Bê-tha-ni cách thành Giê-ru-sa-lem chỉ độ mười lăm ếch-ta-đơ. nhiều người Giu-đa đã đến đó đặng yên ủi Ma-thê Ma-ri về sự anh chết. Lúc Ma-thê nghe Đức Chúa Jêsus đến, thì đi đón Ngài; nhưng Ma-ri thì ngồi tại nhà. Ma-thê thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa đây, thì anh tôi không chết; bây giờ tôi cụng biết mọi điều Ngài sẽ xin Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời ắt ban cho. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Anh ngươi sẽ sống lại. Ma-thê thưa rằng: Tôi vẫn biết rằng đến sự sống lại ngày cuối cùng, anh tôi sẽ sống lại. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta sự sống lại sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng? Người thưa rằng: Lạy Chúa, phải, tôi tin Chúa Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, Đấng phải đến thế gian. Người nói xong, liền về, lén kêu em Ma-ri, rằng: Thầy đằng kia, đang gọi em lại. Ma-ri vừa nghe mấy lời, vội vàng đứng dậy đến cùng Ngài. Vả, Đức Chúa Jêsus chưa vào trong làng, nhưng còn đứng nơi Ma-thê đến đón Ngài. Khi những người Giu-đa đang trong nhà với Ma-ri yên ủi người, thấy người đứng dậy đi ra vội như vậy, thì theo sau, nghĩ rằng người đến mộ đặng khóc. Nhưng Ma-ri, lúc đã tới nơi Đức Chúa Jêsus đứng, vừa thấy Ngài, thì sấp mình xuống chân Ngài nói rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa đây, thì anh tôi không chết! Đức Chúa Jêsus thấy người khóc, những người Giu-đa đi với người cũng khóc, bèn đau lòng cảm động phán rằng: Các ngươi đã chôn người đâu? Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin hãy lại coi. Đức Chúa Jêsus khóc. Người Giu-đa bèn nói rằng: Kìa, người yêu La-xa-rơ dường nào! một vài người trong chúng nói: Người đã mở mắt kẻ được, chẳng thể cũng làm cho người nầy không chết sao? Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus lại đau lòng nữa, bèn đến phần mộ: mộ bằng một cái hang, trước cửa hang một hòn đá chận lại. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy lăn hòn đá đi. Ma-thê, em gái kẻ chết, thưa rằng: Lạy Chúa, đã mùi, người nằm đó bốn ngày rồi. Đức Chúa Jêsus lại phán: Ta chẳng từng nói với ngươi rằng nếu ngươi tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sao? Vậy, họ lăn hòn đá đi. Đức Chúa Jêsus bèn nhướng mắt lên trời rằng: Thưa Cha, tôi tạ ơn Cha, đã nhậm lời tôi. Tôi biết rằng Cha nhậm lời tôi luôn, nhưng tôi nói vậy cớ đoàn dân nầy đứng chung quanh tôi, hầu cho họ tin rằng ấy chính Cha Đấng đã sai tôi đến. Khi Ngài nói xong, bèn kêu lên một tiếng lớn rằng: Hỡi La-xa-rơ, hãy ra! Người chết đi ra, chân tay buộc bằng vải liệm mặt thì phủ khăn. Đức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Hãy mở cho người, để người đi.

Conclusão

Os milagres de Jesus revelam sua autoridade sobre a natureza, as enfermidades, o mundo espiritual e até a morte. Eles não são apenas demonstrações de poder, mas sinais que apontam para sua identidade e missão.

Ao estudar esses milagres, é possível compreender melhor o papel de Jesus e a mensagem central do Evangelho.

Se este conteúdo ajudou você a entender os milagres de Jesus na Bíblia, compartilhe este artigo para que mais pessoas também conheçam esses ensinamentos.

Edineia Fernandes
1 pessoa deu Amém