Esperança
A esperança cristã não é desejo vago — é certeza inabalável fundamentada nas promessas de Deus. Ela é âncora da alma, firme e segura, que penetra até o interior do véu.
Esperança viva
Bendito seja Deus que nos gerou de novo para uma esperança viva, mediante a ressurreição de Jesus Cristo.
Tôn vinh Đức Chúa Trời, Cha của Chúa Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta. Bởi lòng nhân từ vô biên, Đức Chúa Trời đã cho chúng ta được tái sinh để làm con cái Ngài. Do đó, niềm hy vọng của chúng ta đầy sức sống vì Chúa Cứu Thế đã từ cõi chết sống lại.
Tôn vinh Đức Chúa Trời, Cha của Chúa Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta. Bởi lòng nhân từ vô biên, Đức Chúa Trời đã cho chúng ta được tái sinh để làm con cái Ngài. Do đó, niềm hy vọng của chúng ta đầy sức sống vì Chúa Cứu Thế đã từ cõi chết sống lại.
Hãy yên lặng, tôn cao Đấng Cứu Thế, Chúa của anh chị em. Nếu có ai hỏi: "Tại sao anh chị em tin Chúa?" hãy sẵn sàng trả lời họ cách hòa nhã, lễ độ, và rành mạch.
Hãy yên lặng, tôn cao Đấng Cứu Thế, Chúa của anh chị em. Nếu có ai hỏi: "Tại sao anh chị em tin Chúa?" hãy sẵn sàng trả lời họ cách hòa nhã, lễ độ, và rành mạch.
Ai có niềm hy vọng ấy sẽ giữ mình tinh khiết vì Chúa Cứu Thế thật là tinh khiết.
Esperança que não decepciona
A esperança não decepciona, pois o amor de Deus é derramado em nossos corações pelo Espírito Santo.
Hy vọng trong Chúa không bao giờ phải thất vọng như hy vọng trần gian, vì Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta, sai Chúa Thánh Linh đổ tình yêu tràn ngập lòng chúng ta.
Hy vọng trong Chúa không bao giờ phải thất vọng như hy vọng trần gian, vì Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta, sai Chúa Thánh Linh đổ tình yêu tràn ngập lòng chúng ta.
Vậy, nhờ đức tin chúng ta được kể là người công chính, và được giải hòa với Đức Chúa Trời qua những điều Chúa Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta, đã làm cho chúng ta. Vì đức tin ấy, Chúa Cứu Thế nâng chúng ta lên địa vị hiện tại, cho hưởng đặc ân làm con Đức Chúa Trời, chúng ta hân hoan vì hy vọng được chia sẻ vinh quang với Ngài.
Đồng thời, chúng ta vui mừng giữa mọi gian khổ, vì biết rằng gian khổ đào tạo kiên nhẫn. Kiên nhẫn đem lại kinh nghiệm, và từ kinh nghiệm phát sinh hy vọng của sự cứu rỗi.
Chúng ta đã được cứu với niềm hy vọng đó. (Nếu đã có rồi đâu cần hy vọng nữa, vì chẳng ai hy vọng sẽ được điều mình đang có. Nếu chúng ta hy vọng điều mình chưa có, hẳn chúng ta phải nhẫn nại chờ đợi.)
Nếu chúng ta hy vọng điều mình chưa có, hẳn chúng ta phải nhẫn nại chờ đợi.)
Hãy vui mừng trong niềm hy vọng. Nhẫn nại trong lúc hoạn nạn, và bền lòng cầu nguyện.
Cầu xin Đức Chúa Trời, là nguồn hy vọng, cho anh chị em tràn ngập vui mừng và bình an khi anh chị em tin cậy Ngài, nhờ đó lòng anh chị em chứa chan hy vọng do quyền năng của Chúa Thánh Linh.
Cầu xin Đức Chúa Trời, là nguồn hy vọng, cho anh chị em tràn ngập vui mừng và bình an khi anh chị em tin cậy Ngài, nhờ đó lòng anh chị em chứa chan hy vọng do quyền năng của Chúa Thánh Linh.
A fé é a certeza
A fé é a certeza do que se espera. Mantenhamos firme a confissão da esperança, pois fiel é o que prometeu.
Đức tin là sự xác quyết về những điều chúng ta hy vọng, là bằng chứng của những việc chúng ta chưa thấy.
Đức tin là sự xác quyết về những điều chúng ta hy vọng, là bằng chứng của những việc chúng ta chưa thấy.
Chúng ta hy vọng chắc chắn nơi lời hứa của Chúa, vì Ngài luôn luôn thành tín.
Chúng ta hy vọng chắc chắn nơi lời hứa của Chúa, vì Ngài luôn luôn thành tín.
Chúng ta cùng thuộc về một thân thể, cùng nhận lãnh một Chúa Thánh Linh, cùng chia sẻ một niềm hy vọng về tương lai vinh quang.
Cũng xin Đức Chúa Trời cho tâm trí anh chị em sáng suốt để hiểu biết niềm hy vọng của người Chúa đã lựa chọn và cơ nghiệp vinh quang phong phú Ngài dành cho con cái Ngài.
Vinh quang vô hạn của chương trình ấy cũng dành cho các dân tộc nước ngoài nữa. Huyền nhiệm đó là: Chúa Cứu Thế ở trong anh chị em là nguồn hy vọng về vinh quang.
vì chúng tôi nghe anh chị em hết lòng tin Chúa Cứu Thế và yêu thương con cái Ngài. Ấy là nhờ anh chị em đã đặt hy vọng vững chắc vào nơi thiên thượng từ khi nghe lời chân lý của Phúc Âm.
Esperança e confiança
Eu sei os planos que tenho para vocês — planos de paz e esperança. Deus é a fonte de toda esperança.
Vì Ta biết chương trình Ta hoạch định cho các con," Chúa Hằng Hữu phán. "Đó là chương trình thịnh vượng, không phải là tai họa, các con có một tương lai sáng sủa và một niềm hy vọng.
Vì Ta biết chương trình Ta hoạch định cho các con," Chúa Hằng Hữu phán. "Đó là chương trình thịnh vượng, không phải là tai họa, các con có một tương lai sáng sủa và một niềm hy vọng.
Hỡi tất cả những người trông cậy Chúa Hằng Hữu!
Hãy anh dũng, can đảm, và bền lòng.
Hỡi tất cả những người trông cậy Chúa Hằng Hữu!
Hãy anh dũng, can đảm, và bền lòng.
Hồn ta hỡi, sao còn buồn bã?
Sao mãi bối rối trong ta?
Ta sẽ đặt hy vọng nơi Đức Chúa Trời!
Ta sẽ còn ngợi tôn Chúa—
Đấng Cứu Rỗi và Đức Chúa Trời của ta!
Hồn ta hỡi, sao còn buồn bã?
Sao mãi bối rối trong ta?
Ta sẽ đặt hy vọng nơi Đức Chúa Trời!
Ta sẽ còn ngợi tôn Chúa—
Đấng Cứu Rỗi và Đức Chúa Trời của ta!
Chúa là nơi trú ẩn và cái khiên của con;
lời Chúa truyền hy vọng cho con.
Chúa là nơi trú ẩn và cái khiên của con;
lời Chúa truyền hy vọng cho con.
Linh hồn con mòn mỏi chờ giải cứu,
hy vọng giải thoát con là lời Ngài.
Phước cho người có Đức Chúa Trời của Gia-cốp giúp đỡ,
đặt hy vọng nơi Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời mình.
Đức Chúa Trời ôi, con tin cậy Ngài luôn!
Xin đừng để con hổ thẹn,
đừng cho kẻ thù thắng con.
Không ai hy vọng nơi Chúa mà bị hổ thẹn,
chỉ những kẻ phản trắc phải tủi nhục đau buồn.
Esperança eterna
Somos salvos na esperança. Aquele que prometeu é fiel. A esperança está guardada nos céus para os que creem.
Nhờ đó, bởi ơn phước Ngài, chúng ta được kể là công chính và được thừa hưởng sự sống vĩnh cửu."
Vì thế, chúng ta lao khổ và chiến đấu, vì đặt hy vọng nơi Đức Chúa Trời Hằng Sống, Chúa Cứu Thế của mọi người, nhất là người tin nhận Ngài.
Chỉ một mình Ngài là Đấng bất tử, là Đấng ở trong cõi sáng láng không ai đến gần được. Không một người nào thấy Ngài. Cầu xin vinh dự và quyền năng đời đời đều quy về Ngài! A-men.
Con hãy khuyên bảo người giàu có ở đời này: Đừng kiêu ngạo và tin tưởng nơi tiền của không bền lâu, nhưng phải đặt hy vọng nơi Đức Chúa Trời, Đấng rộng rãi ban mọi vật cho chúng ta được hưởng.
Mỗi khi cầu nguyện với Đức Chúa Trời, Cha trên trời, chúng tôi không bao giờ quên công việc anh chị em thực hiện do đức tin, những thành quả tốt đẹp do tình yêu thương và lòng nhẫn nại đợi chờ Chúa Cứu Thế Giê-xu trở lại.
Thưa anh chị em, chúng tôi muốn anh chị em biết số phận những người đã khuất, để anh chị em khỏi buồn rầu như người tuyệt vọng. Chúng ta đã tin Chúa Giê-xu chịu chết và sống lại, tất nhiên cũng tin Đức Chúa Trời sẽ đem những người qua đời trong Chúa Giê-xu cùng trở lại với Ngài.
Với niềm hy vọng đó, chúng tôi dũng cảm truyền bá Phúc Âm,
Vậy, chỉ có ba điều tồn tại—đức tin, hy vọng, và tình yêu—nhưng tình yêu vĩ đại hơn cả.
Expressões de esperança
Vinde a mim todos os que estais cansados. A esperança adia a dor e floresce na presença do Senhor.
Rồi Chúa Giê-xu phán: "Hãy đến với Ta, những ai đang nhọc mệt và nặng gánh ưu tư, Ta sẽ cho các con được nghỉ ngơi.
Thần của Chúa Hằng Hữu Chí Cao ngự trên ta,
vì Chúa đã xức dầu cho ta
để rao truyền Phúc Âm cho người nghèo.
Ngài sai ta đến để an ủi những tấm lòng tan vỡ,
và công bố rằng những người bị giam cầm sẽ được phóng thích,
cùng những người tù sẽ được tự do.
Nhưng tin cậy Chúa Hằng Hữu thì sẽ được sức mới.
Họ sẽ tung cánh bay cao như chim ưng.
Họ sẽ chạy mà không biết mệt.
Sẽ bước đi mà không mòn mỏi.
Tôi tự bảo: "Chúa Hằng Hữu là cơ nghiệp của tôi;
vì thế, tôi sẽ hy vọng trong Ngài!"
Riêng tôi, tôi ngưỡng vọng Chúa Hằng Hữu.
Tôi chờ đợi Đức Chúa Trời giải cứu tôi,
Đức Chúa Trời tôi sẽ nghe tôi.
Hy vọng trì hoãn khiến lòng đau ê ẩm,
mộng được thành làm phấn chấn tâm can.
Hy vọng trì hoãn khiến lòng đau ê ẩm,
mộng được thành làm phấn chấn tâm can.
Firmeza na esperança
Esperai no Senhor! O cavalo é vaidade para a segurança, mas o Senhor guarda os que nele esperam.
Nguyện tình thương Chúa Hằng Hữu bao phủ chúng con,
như chúng con hằng hy vọng nơi Ngài.
Nguyện tình thương Chúa Hằng Hữu bao phủ chúng con,
như chúng con hằng hy vọng nơi Ngài.
Chúng con trông đợi Chúa Hằng Hữu.
Đấng cứu hộ, khiên thuẫn chở che.
Lúc lâm nguy chiến mã thành vô dụng—
dù mạnh đến đâu cũng chẳng giải thoát được ai.
Nhưng mắt Chúa Hằng Hữu nhìn người tin kính
và người trông mong đức nhân từ không phai tàn của Ngài.
Chúa giải thoát họ khỏi chết
và cho họ sống sót qua cơn đói kém.
Con mong đợi Chúa Hằng Hữu;
linh hồn con ngóng trông Ngài.
Con hy vọng nơi lời hứa Ngài.
Hồn ta hỡi, chỉ an nghỉ trong Đức Chúa Trời,
hy vọng ta chỉ phát khởi từ Ngài.
Chúa nhậm lời, giải cứu chúng con bằng những công việc đáng sợ,
lạy Đức Chúa Trời, Đấng Giải Cứu chúng con.
Ngài là hy vọng của các dân khắp địa cầu,
và của các dân ở miền biển xa xăm.
Lạy Chúa, có ai đáng cho con hy vọng?
Hy vọng con chỉ đặt nơi Ngài.
Xin dẫn con đi vào chân lý và khuyên bảo con,
vì Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng cứu rỗi con.
Suốt ngày con hy vọng trong Ngài.
Xin nghe tiếng con vào buổi sáng, lạy Chúa Hằng Hữu.
Mỗi sáng con kêu cầu Ngài cứu giúp và tin chắc Ngài sẽ nhậm lời.
Nhưng người khốn khó sẽ chẳng mãi bị bỏ quên;
người nghèo cũng không tiêu tan hy vọng.
Chúa Hằng Hữu gìn giữ ngươi khỏi mọi tai họa
và bảo vệ mạng sống ngươi.
Chúa Hằng Hữu che chở ngươi khi ra khi vào,
từ nay đến muôn đời.
Con hằng để Chúa Hằng Hữu trước mặt con.
Con không nao sờn vì Ngài ở bên cạnh con.