Fé: o que é, como funciona e sua prática diária
O que é a fé segundo a Bíblia
A fé bíblica é a certeza convicta das promessas de Deus e a prova daquilo que os olhos naturais não conseguem ver (Hebreus 11:1). Longe de ser otimismo ingênuo ou pensamento positivo, ela é uma confiança ativa no caráter e na fidelidade daquele que prometeu.
Na tradição bíblica, ter fé envolve crer que Deus existe e confiar que ele cuida daqueles que o buscam sinceramente.
Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy.(Hê-bơ-rơ 11:1)
Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.(Hê-bơ-rơ 11:6)
Cũng bởi đức tin mà Sa-ra dẫu có tuổi còn có sức sanh con cái được, vì người tin rằng Đấng hứa cho mình điều đó là thành tín.(Hê-bơ-rơ 11:11)
nhìn xem Đức Chúa Jêsus, là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Đấng vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời.(Hê-bơ-rơ 12:2)
Người công bình của ta sẽ cậy đức tin mà sống, Nhưng nếu lui đi thì linh hồn ta chẳng lấy làm đẹp chút nào.(Hê-bơ-rơ 10:38)
Salvação e justificação mediante a fé
No coração do Novo Testamento está o ensino de que a reconciliação com Deus não é conquistada por mérito ou esforço próprio, mas recebida como presente pela fé em Jesus Cristo. Essa mensagem atravessa as cartas apostólicas: a fé acolhe o favor imerecido de Deus e produz paz duradoura com o Criador.
Essa confiança não brota do vazio, mas nasce ao ouvir a mensagem do evangelho.
Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Aáy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình;(Ê-phê-sô 2:8,9)
vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin.(La-mã 1:17)
còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình, thì đức tin của kẻ ấy kể là công bình cho mình.(La-mã 4:5)
Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta,(La-mã 5:1)
vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi.(La-mã 10:10)
Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng.(La-mã 10:17)
Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi.(Ga-la-ti 2:20)
Vì chưng anh em bởi tin Đức Chúa Jêsus Christ, nên hết thảy đều là con trai của Đức Chúa Trời. Vả, anh em thảy đều chịu phép báp tem trong Đấng Christ, đều mặc lấy Đấng Christ vậy.(Ga-la-ti 3:26,27)
A fé na oração e diante do impossível
Nos Evangelhos, Jesus repetidamente desafiou as pessoas a confiarem no poder soberano de Deus. Ter fé na oração não significa tentar manipular a vontade divina, mas reconhecer que Deus pode agir além dos limites humanos.
Mesmo uma fé pequena como um grão de mostarda é suficiente quando repousa no Deus Todo-Poderoso.
Ngài đáp rằng: Aáy là tại các ngươi ít đức tin: vì ta nói thật cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin bằng một hột cải, sẽ khiến núi nầy rằng: Hãy dời đây qua đó, thì nó liền dời qua, và không có sự gì mà các ngươi chẳng làm được.(Ma-thi-ơ 17:20)
Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin, và không nghi ngờ chi hết, thì chẳng những các ngươi làm được điều đã làm cho cây vả mà thôi, song dầu các ngươi biểu hòn núi nầy rằng: Hãy cất mình lên và quăng xuống biển, điều đó cũng sẽ làm được.(Ma-thi-ơ 21:21)
Trong khi cầu nguyện, các ngươi lấy đức tin xin việc gì bất k", thảy đều được cả.(Ma-thi-ơ 21:22)
Ngài bèn rờ mắt hai người mà phán rằng: Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy.(Ma-thi-ơ 9:29)
Ngài bèn phán rằng: Hỡi đàn bà kia, ngươi có đức tin lớn; việc phải xảy ra theo ý ngươi muốn! Cũng một giờ đó, con gái người liền được lành.(Ma-thi-ơ 15:28)
Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Sao ngươi nói: Nếu thầy làm được? Kẻ nào tin thì mọi việc đều được cả.(Mác 9:23)
Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán rằng: Hãy có đức tin đến Đức Chúa Trời.(Mác 11:22)
Bởi vậy ta nói cùng các ngươi: Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi.(Mác 11:24)
Bởi vì không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được.(Lu-ca 1:37)
Fé prática: obras, caráter e perseverança
A Escritura distingue a fé genuína de uma mera afirmação teórica. O apóstolo Tiago enfatiza que a fé verdadeira inevitavelmente transparece em ações de justiça, obediência e cuidado com o próximo. Sem frutos concretos, qualquer profissão de fé torna-se vazia.
Nas dificuldades e provações diárias, essa mesma fé funciona como um escudo contra o desespero e serve para amadurecer a perseverança cristã.
Vả, xác chẳng có hồn thì chết, đức tin không có việc làm cũng chết như vậy.(Gia-cơ 2:26)
vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục.(Gia-cơ 1:3)
Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho. Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đi đó. Người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa: ấy là một người phân tâm, phàm làm việc gì đều không định.(Gia-cơ 1:5-8)
Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu; hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra. Ngài là Đấng anh em không thấy mà yêu mến; dầu bây giờ anh em không thấy Ngài, nhưng tin Ngài, và vui mừng lắm một cách không xiết kể và vinh hiển: nhận được phần thưởng về đức tin anh em, là sự cứu rỗi linh hồn mình.(1 Phia-rơ 1:6-9)
Hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự nó, vì biết rằng anh em mình ở rải khắp thế gian, cũng đồng chịu hoạn nạn như mình.(1 Phia-rơ 5:9)
Lại phải lấy thêm đức tin làm thuẫn, nhờ đó anh em có thể dập tắt được các tên lửa của kẻ dữ.(Ê-phê-sô 6:16)
Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng biết đủ các sự mầu nhiệm, và mọi sự hay biết; dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì.(1 Cô-rinh 13:2)
Anh em hãy tỉnh thức, hãy vững vàng trong đức tin, hãy dốc chí trượng phu và mạnh mẽ.(1 Cô-rinh 16:13)
vì chúng ta bước đi bởi đức tin, chớ chẳng phải bởi mắt thấy.(2 Cô-rinh 5:7)
Confiança no dia a dia e a promessa da vida eterna
Viver pela fé significa abrir mão da autossuficiência e permitir que a sabedoria de Deus guie escolhas, relacionamentos e caminhos cotidianos. Mesmo diante do sofrimento ou da morte, o cristão apoia sua esperança na promessa da ressurreição e da vida plena com Cristo.
Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, Chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con; Phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài, Thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con.(Châm Ngôn 3:5,6)
Vả, Chúa Giê-hô-va, là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, có phán như vầy: Các ngươi sẽ được rỗi, là tại trở lại và yên nghỉ; các ngươi sẽ được sức mạnh, là tại yên lặng và trông cậy. Nhưng các ngươi đã không muốn thế!(Ê-sai 30:15)
Vậy xin Đức Chúa Trời của sự trông cậy, làm cho anh em đầy dẫy mọi điều vui vẻ và mọi điều bình an trong đức tin, hầu cho anh em nhờ quyền phép Đức Thánh Linh được dư dật sự trông cậy!(La-mã 15:13)
Nhưng, hỡi con, là người của Đức Chúa Trời, hãy tránh những sự đó đi, mà tìm điều công bình, tin kính, đức tin, yêu thương, nhịn nhục, mềm mại.(1 Ti-mô-thê 6:11)
Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin.(2 Ti-mô-thê 4:7)
nếu chúng ta không thành tín, song Ngài vẫn thành tín, vì Ngài không thể tự chối mình được.(2 Ti-mô-thê 2:13)
vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta.(1 Giăng 5:4)
Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.(Giăng 3:16)
Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin ta chẳng hề khát.(Giăng 6:35)
Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?(Giăng 11:25,26)
Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài; Nhưng ta sẽ binh vực tánh hạnh ta trước mặt Ngài.(Gióp 13:15)
Este artigo te tocou? Faça uma oração!
+581 estão orando agora.
Junte-se à corrente de oração.