Versículo sobre recompensa: o galardão na Bíblia
A recompensa bíblica não é um pagamento por dívida que Deus tenha com o ser humano, mas o compromisso gracioso de honrar quem nele confia e persevera no bem. Enquanto a salvação da condenação é um dom inteiramente imerecido, concedido pela graça mediante a fé, a Escritura ensina que Deus nota cada ato de fidelidade, renúncia e amor — e não deixa nada disso sem resposta.
Tanto no Antigo quanto no Novo Testamento, o termo recompensa (muitas vezes chamado de galardão) descreve tanto o sustento e a paz no tempo presente quanto a coroa da vida e a herança prometida na eternidade.
Deus recompensa a fé sincera
O autor da carta aos Hebreus resume o princípio da fé: quem busca se aproximar de Deus precisa crer não apenas na existência dele, mas também no seu caráter recompensador. A confiança perseverante nunca é vã diante do Senhor.
Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.(Hê-bơ-rơ 11:6)
Phước cho người bị cám dỗ; vì lúc đã chịu nổi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài.(Gia-cơ 1:12)
ỳ đó ngươi sẽ tìm cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và khi nào hết lòng hết ý tìm cầu Ngài thì mới gặp.(Phục Truyền Luật Lệ 4:29)
Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho.(Ma-thi-ơ 7:7)
Bởi vậy ta nói cùng các ngươi: Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi.(Mác 11:24)
O trabalho e a perseverança no Reino
Nenhum cansaço enfrentado por obediência a Deus passa em branco. A Bíblia orienta que toda tarefa seja desempenhada de coração, com os olhos postos no Senhor, porque dele virá a retribuição definitiva por tudo o que foi semeado com retidão.
Chủ nói với người rằng: Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa ngươi.(Ma-thi-ơ 25:21)
Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta, vì biết rằng anh em sẽ bởi Chúa mà được cơ nghiệp làm phần thưởng. Hãy hầu việc Đấng Christ, tức là Chúa.(Cô-lô-se 3:23,24)
Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu.(1 Cô-rinh 15:58)
Chớ mệt nhọc về sự làm lành, vì nếu chúng ta không trễ nải, thì đến k" chúng ta sẽ gặt.(Ga-la-ti 6:9)
Song có nhiều kẻ ở đầu sẽ nên rốt, và nhiều kẻ ở rốt sẽ nên đầu.(Ma-thi-ơ 19:30)
là Đấng sẽ trả lại cho mỗi người tùy theo công việc họ làm:(La-mã 2:6)
A generosidade colhe o que semeia
As Escrituras associam repetidamente o desprendimento material ao cuidado de Deus com as necessidades daquele que dá. Abertura para repartir com os outros atrai o favor divino e produz frutos de justiça na própria vida.
Hãy cho, người sẽ cho mình; họ sẽ lấy đấu lớn, nhận, lắc cho đầy tràn, mà nộp trong lòng các ngươi; vì các ngươi lường mực nào, thì họ cũng lường lại cho các ngươi mực ấy.(Lu-ca 6:38)
Nếu các ngươi làm ơn cho kẻ làm ơn mình, thì có ơn chi? Người có tội cũng làm như vậy.(Lu-ca 6:33)
Hãy chữa lành kẻ đau, khiến sống kẻ chết, làm sạch kẻ phung, và trừ các quỉ. Các ngươi đã được lãnh không thì hãy cho không.(Ma-thi-ơ 10:8)
Đức Chúa Trời có quyền ban cho anh em đủ mọi thứ ơn đầy dẫy, hầu cho anh em hằng đủ điều cần dùng trong mọi sự, lại còn có rời rộng nữa để làm các thứ việc lành,(2 Cô-rinh 9:8)
Kẻ dữ ăn được công giá hư giả; Song ai gieo điều công bình hưởng phần thưởng chắc chắn.(Châm Ngôn 11:18)
Phần thưởng của sự khiêm nhượng và sự kính sợ Đức Giê-hô-va, Aáy là sự giàu có, sự tôn trọng, và mạng sống.(Châm Ngôn 22:4)
Sự nhân từ và sự chân thật, chớ để lìa bỏ con; Hãy đeo nó vào cổ, ghi nó nơi bia lòng con; Như vậy, trước mặt Đức Chúa Trời và loài người Con sẽ được ơn và có sự khôn ngoan thật.(Châm Ngôn 3:3,4)
A recompensa em secreto
Jesus advertiu severamente contra a prática religiosa voltada para impressionar outras pessoas. Quem busca visibilidade e aplauso humano já recebeu sua paga por completo; quem serve e ora sem plateia recebe o galardão do Pai, que enxerga o oculto.
Vậy, khi ngươi bố thí, đừng thổi kèn trước mặt mình, như bọn giả hình làm trong nhà hội và ngoài đường, để được người ta tôn kính. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, bọn đó đã được phần thưởng của mình rồi.(Ma-thi-ơ 6:2)
Song khi ngươi cầu nguyện, hãy vào phòng riêng, đóng cửa lại, rồi cầu nguyện Cha ngươi, ở nơi kín nhiệm đó; và Cha ngươi, là Đấng thấy trong chỗ kín nhiệm, sẽ thưởng cho ngươi.(Ma-thi-ơ 6:6)
Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!(Ma-thi-ơ 5:6)
Hãy tìm điều lành và đừng tìm đều dữ, hầu cho các ngươi được sống, thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân sẽ ở cùng ngươi, như các ngươi nói vậy.(A-mốt 5:14)
Tôi giơ tay lên hướng về Chúa; Lòng tôi khát khao Chúa như đất khô khan vậy.(Thi Thiên 143:6)
O galardão eterno e a esperança final
A recompensa cristã mais valiosa não pode ser medida por bens temporais. Ela aponta para o prêmio da vocação celestial em Cristo, o desfrute da vida eterna e uma glória que as dores do mundo presente não conseguem anular.
Song le, như có chép rằng: Aáy là sự mắt chưa thấy, tai chưa nghe, Và lòng người chưa nghĩ đến, Nhưng Đức Chúa Trời đã sắm sẵn điều ấy cho những người yêu mến Ngài.(1 Cô-rinh 2:9)
nhưng tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ.(Phi-líp 3:14)
lại soi sáng con mắt của lòng anh em, hầu cho biết điều trông cậy về sự kêu gọi của Ngài là thể nào, sự giàu có của cơ nghiệp vinh hiển Ngài cho các thánh đồ là làm sao,(Ê-phê-sô 1:18)
Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao?(La-mã 8:32)
Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn.(2 Cô-rinh 4:16)
Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta.(La-mã 6:23)
Vậy, hãy hạ mình xuống dưới tay quyền phép của Đức Chúa Trời, hầu cho đến kỳ thuận hiệp Ngài nhắc anh em lên;(1 Phia-rơ 5:6)
Hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa, thì Ngài sẽ nhắc anh em lên.(Gia-cơ 4:10)
Vậy, ta nhìn biết chẳng có điều gì tốt cho loài người hơn là vui vẻ, và làm lành trọn đời mình. Lại, ai nấy phải ăn, uống, và hưởng lấy phước của công lao mình, ấy cũng là sự ban cho của Đức Chúa Trời.(Giáo Huấn 3:12,13)
Kìa, ta đã nhìn thấy rằng ăn, uống, và hưởng phước của sự lao khổ mình làm ở dưới mặt trời trọn trong những ngày mà Đức Chúa Trời ban cho, ấy thật là tốt và hay; vì đó là kỷ phần mình.(Giáo Huấn 5:18)
Hễ Đức Chúa Trời ban cho người nào giàu có, của cải, làm cho người có thế ăn lấy, nhận lãnh kỷ phần, và vui vẻ trong công lao của mình, ấy là một sự ban cho của Đức Chúa Trời;(Giáo Huấn 5:19)
Este artigo te tocou? Faça uma oração!
+581 estão orando agora.
Junte-se à corrente de oração.