Pular para o conteúdo
Publicidade

Adoração

Por Bíblia Online

A adoração é a resposta do coração humano à majestade de Deus. Deus é Espírito e importa que os que o adoram o adorem em espírito e em verdade — com todo o ser.

Adorar em espírito

Deus é Espírito e importa que os adoradores o adorem em espírito e em verdade. A adoração verdadeira brota do coração.

Đức Chúa Trời Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần lẽ thật thờ lạy.

Nhưng giờ hầu đến, đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần lẽ thật thờ phượng Cha: ấy đó những kẻ thờ phượng Cha ưa thích vậy. Đức Chúa Trời Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần lẽ thật thờ lạy.

Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi người đàn , hãy tin ta, giờ đến, khi các ngươi thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem. Các ngươi thờ lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ lạy sự chúng ta biết, sự cứu rỗi bởi người Giu-đa đến. Nhưng giờ hầu đến, đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần lẽ thật thờ phượng Cha: ấy đó những kẻ thờ phượng Cha ưa thích vậy.

Người thưa rằng: Lạy Chúa, tôi tin; bèn sấp mình xuống trước mặt Ngài.

Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng rằng: Hỡi quỉ Sa-tan, ngươi hãy lui ra! lời chép rằng: Ngươi phải thờ phượng Chúa Đức Chúa Trời ngươi, chỉ hầu việc một mình Ngài thôi.

Đức Chúa Jêsus đáp: chép rằng: Ngươi phải thờ phượng Chúa, Đức Chúa Trời ngươi, chỉ hầu việc một mình Ngài thôi.

Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy sự thờ phượng phải lẽ của anh em.

Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy sự thờ phượng phải lẽ của anh em. Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng trọn vẹn của Đức Chúa Trời thể nào.

muôn vật đều từ Ngài, bởi Ngài hướng về Ngài. Vinh hiển cho Ngài đời đời, cùng! A-men.

Bởi chép rằng: Chúa phán: Thật như ta hằng sống, mọi đầu gối sẽ quì trước mặt ta, mọi lưỡi sẽ ngợi khen Đức Chúa Trời.

Louvor e reverência

Vinde, adoremos e prostremo-nos. Louvai ao Senhor! Todo ser que respira louve o nome glorioso do Senhor.

Hãy đến, cúi xuống thờ lạy; Khá quì gối xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, Đấng Tạo hóa chúng tôi!

Hãy đến, cúi xuống thờ lạy; Khá quì gối xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, Đấng Tạo hóa chúng tôi!

Ha-lê-lu-gia! Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va trong nơi thánh Ngài! Hãy ngợi khen Ngài trên bầu trời về quyền năng Ngài! Hãy ngợi khen Ngài các việc quyền năng Ngài! Hãy ngợi khen Ngài tùy theo sự oai nghi cả thể của Ngài! Hãy thổi kèn ngợi khen Ngài, Gảy đàn sắt đàn cầm ca tụng Ngài! Hãy đánh trống cơm nhảy múa, hát ngợi khen Ngài! Hãy gảy nhạc khí bằng dây thổi sáo, ca tụng Ngài! Hãy dùng chập chỏa dội tiếng, la kêu rền, ngợi khen Ngài! Phàm vật chi thở, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia!

Phàm vật chi thở, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia!

Hãy cảm tạ vào các cửa Ngài, Hãy ngợi khen vào hành lang Ngài. Khá cảm tạ Ngài, chúc tụng danh của Ngài.

Hãy tôn Đức Giê-hô-va vinh hiển xứng đáng cho danh Ngài; Hãy mặc trang sức thánh thờ lạy Đức Giê-hô-va.

Hỡi cả trái đất, Khá cất tiếng reo mừng Đức Chúa Trời. Hãy hát ra sự vinh hiển của danh Ngài, Hãy ngợi khen tôn vinh Ngài. Hãy thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Các việc Chúa đáng sợ thay! Nhân quyền năng rất lớn của Chúa, những kẻ thù nghịch Chúa đều sẽ suy phục Chúa. Cả trái đất sẽ thờ lạy Chúa, hát ngợi khen Ngài; Chúng sẽ ca tụng danh Chúa.

Tôi lấy miệng tôi kêu cầu Ngài, lưỡi tôi tôn cao Ngài.

Hết thảy các dân Chúa đã dựng nên Sẽ đến thờ lạy trước mặt Chúa, tôn vinh danh Chúa. Chúa rất lớn, làm những sự lạ lùng. Chỉ một mình Chúa Đức Chúa Trời thôi.

Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Mọi điều trong ta hãy ca tụng danh thánh của Ngài!

Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, cầu khẩn danh của Ngài; Khá truyền ra giữa các dân những công việc Ngài!

Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa Đức Chúa Trời tôi, vừa sáng tôi tìm cầu Chúa; Trong một đất khô khan, cực nhọc, chẳng nước, Linh hồn tôi khát khao Chúa, thân thể tôi mong mỏi về Chúa,

sự nhân từ Chúa tốt hơn mạng sống; Môi tôi sẽ ngợi khen Chúa. Như vậy, tôi sẽ chúc phước Chúa trọn đời tôi; Nhân danh Chúa tôi sẽ giơ tay lên.

Declarações de adoração

Tu és digno, Senhor, de receber glória e honra! Ao Senhor pertence a grandeza, o poder, a glória e a majestade.

Lạy Đức Chúa Trời Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí quyền lực; Chúa đã dựng nên muôn vật, ấy ý muốn Chúa muôn vật mới đã được dựng nên.

Người cất tiếng lớn nói rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, tôn vinh Ngài, giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời, đất, biển các suối nước.

Lạy Chúa, ai kẻ không kính sợ không ngợi khen danh Ngài? một mình Ngài thánh, mọi dân tộc sẽ đến thờ lạy trước mặt Ngài, các sự đoán xét Ngài đã được tỏ ra.

Chính tôi Giăng đã thấy nghe những điều đó. Khi nghe thấy đoạn, tôi sấp mình xuống dưới chân thiên sứ đã tỏ những điều ấy cho tôi, để thờ lạy. Song người phán rằng: Chớ làm vậy! Ta bạn tôi tớ với ngươi, với anh em ngươi, các đấng tiên tri, với những kẻ giữ các lời trong sách nầy. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời!

Hỡi Đức Giê-hô-va sự cao cả, quyền năng, vinh quang, toàn thắng, oai nghi đáng qui về Ngài; muôn vật trên các từng trời dưới đất đều thuộc về Ngài. Đức Giê-hô-va ôi! nước thuộc về Ngài; Ngài được tôn cao làm Chúa tể của muôn vật.

Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, Ngài nhân từ; Sự thương xót Ngài còn đến đời đời. Hãy nói: Hỡi Đức Chúa Trời, Đấng chửng cứu chúng tôi! xin hãy cứu rỗi chúng tôi, Hiệp chúng tôi lại, giải thoát khỏi các nước, Để chúng tôi cảm tạ danh thánh Chúa, nhờ sự ngợi khen Chúa lấy làm được vinh. Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Từ đời đời cho đến đời đời! Cả dân sự đều đáp rằng: A-men! ngợi khen Đức Giê-hô-va.

Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, Ngài nhân từ; Sự thương xót Ngài còn đến đời đời.

Hãy ca hát cho Ngài, hãy ngợi khen Ngài! Suy gẫm về các công việc mầu của Ngài.

Cũng đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, ban cho Ngài danh trên hết mọi danh, hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống, mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ Chúa, tôn vinh Đức Chúa Trời, Đức Chúa Cha.

Sacrifício de louvor

Por meio de Jesus ofereçamos sempre sacrifício de louvor. Cantai ao Senhor, celebrai em salmos — enchei-vos do Espírito.

Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jêsus hằng dâng tế lễ bằng lời ngợi khen cho Đức Chúa Trời, nghĩa bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra.

Như vậy, chúng ta phần trong một nước không hay rúng động, nên hãy cảm ơn, hầu cho lấy lòng kính sợ hầu việc Đức Chúa Trời một cách đẹp lòng Ngài; Đức Chúa Trời chúng ta đám lửa hay thiêu đốt.

Hãy lấy ca vịnh, thơ thánh, bài hát thiêng liêng đối đáp cùng nhau, hết lòng hát mừng ngợi khen Chúa.

Nguyền xin lời của Đấng Christ đầy trong lòng anh em, anh em dật mọi sự khôn ngoan. Hãy dùng những ca vịnh, thơ thánh, bài hát thiêng liêng dạy khuyên nhau, được đầy ơn Ngài nên hãy hết lòng hát khen Đức Chúa Trời.

Lối nửa đêm, Phao-lô Si-la đang cầu nguyện, hát ngợi khen Đức Chúa Trời; những phạm đều nghe.

Chúc tạ Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Cha hay thương xót, Đức Chúa Trời ban mọi sự yên ủi. Ngài yên ủi chúng tôi trong mọi sự khốn nạn, hầu cho nhơn sự yên ủi Ngài đã yên ủi chúng tôi, thì chúng tôi cũng thể yên ủi kẻ khác trong sự khốn nạn nào họ gặp!

chúng tôi lấy điều đã thấy đã nghe truyền cho anh em, hầu cho anh em cũng được giao thông với chúng tôi. Vả, chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha, với Con Ngài Đức Chúa Jêsus Christ.

Adoração como vida

Exaltai ao Senhor, prostrai-vos ante o escabelo dos seus pés. A adoração genuína transforma o adorador e agrada o Criador.

Hãy tôn cao Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, thờ lạy trước bệ chân Ngài: Ngài thánh!

Hằng ngày miệng tôi đầy sự ngợi khen sự tôn vinh Chúa.

Hãy hát xướng cho Đức Chúa Trời, hãy ngợi khen danh Ngài; Khá đắp đường cái cho Đấng cỡi ngựa đi ngang qua đồng bằng: Đức Giê-hô-va danh Ngài; hãy vui mừng trước mặt Ngài. Đức Chúa Trời nơi thánh Ngài, Cha kẻ mồ côi, quan xét của người góa bụa.

Tôi sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va y theo sự công bình Ngài, ca tụng danh Đức Giê-hô-va Đấng Chí cao.

Tôi sẽ rao truyền danh Chúa cho anh em tôi, ngợi khen Chúa giữa hội chúng. Hỡi các người kính sợ Đức Giê-hô-va, hãy ngợi khen Ngài; ù hết thảy dòng dõi Gia-cốp, khá tôn vinh Ngài. Hỡi hết thảy dòng dõi Y-sơ-ra-ên, hãy kính sợ Ngài;

Tôi giơ tay lên hướng về Chúa; Lòng tôi khát khao Chúa như đất khô khan vậy.

Hỡi linh hồn ta, cớ sao ngươi sờn ngã bồn chồn trong mình ta? Hãy trông cậy nơi Đức Chúa Trời; ta sẽ còn khen ngợi Ngài nữa: Ngài sự cứu rỗi của mặt ta, Đức Chúa Trời ta.

Tôi đã nói cùng Đức Giê-hô-va rằng: Ngài Chúa tôi; Trừ Ngài ra tôi không phước khác.

Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách kính sợ, mừng rỡ cách run rẩy.

Hỡi Đấng chí cao, tôi sẽ vui vẻ, hớn hở nơi Ngài, ca tụng danh của Ngài.

Falsa adoração

Não terás outros deuses diante de mim. Não adorarás ídolos. A adoração exclusiva ao Senhor é mandamento inegociável.

Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó, cũng đừng hầu việc chúng ; ta Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức Đức Chúa Trời kỵ , hễ ai ghét ta, ta sẽ nhân tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời,

ngươi đừng sấp mình xuống trước mặt Chúa nào khác, bởi Đức Giê-hô-va tự xưng Đức Chúa Trời kỵ ; Ngài thật một Đức Chúa Trời kỵ vậy.

Vừa khi người vào đó, thì trụ mây giáng xuống dừng tại cửa Trại, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se. Cả dân sự thấy trụ mây dừng tại cửa Trại, bèn đứng dậy, rồi mỗi người đều sấp mình xuống nơi cửa trại mình.

Đức Giê-hô-va sức mạnh sự ca tụng của tôi: Ngài đã trở nên Đấng cứu tôi. Ngài Đức Chúa Trời tôi, tôi ngợi khen Ngài; Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi, tôi tôn kính Ngài.

Hỡi Đức Giê-hô-va! trong vòng các thần, ai giống như Ngài? Trong sự thánh khiết, ai được vinh hiển như Ngài. Đáng sợ, đáng khen Hay làm các phép lạ?

Ngươi hãy hầu việc Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi; Ngài sẽ ban ơn cho vật ăn uống của ngươi tiêu trừ các bịnh hoạn giữa vòng ngươi.

Aáy chính Ngài sự vinh quang ngươi Đức Chúa Trời ngươi, Đấng đã làm những việc lớn lao đáng kính nầy, mắt ngươi đã thấy.

rồi các ngươi sẽ ăn tại đó, trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, vui vẻ cùng gia quyến mình, mọi việc tay mình làm đã được Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho.

Chúng trêu ghẹo Ngài phân , bởi sự cúng thờ những thần khác, Chọc giận Ngài các sự gớm ghiếc; Tế lễ những ma quỉ chẳng phải Đức Chúa Trời, Quì lạy các thần mình chưa hề biết, Tức các thần mới vừa đến ít lâu, tổ phụ các ngươi không kính sợ. Ngươi không kể đến Hòn Đá sanh mình. quên Đức Chúa Trời đã tạo mình.

Các ngươi khá cẩn thận, kẻo lòng mình bị dụ dỗ, xây bỏ Chúa, hầu việc các thần khác, quì lạy trước mặt chúng chăng;

Chúa phán rằng: dân nầy chỉ lấy miệng tới gần ta, lấy môi miếng tôn ta, lòng chúng thì cách xa ta lắm; sự chúng kính sợ ta chẳng qua điều răn của loài người, bởi loài người dạy cho;

Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài Đức Chúa Trời tôi! Tôi tôn sùng Ngài, tôi ngợi khen danh Ngài; Ngài đã làm những sự mới lạ, những mưu đã định từ xưa, cách thành tín chân thật.

Đức Chúa Trời bèn lìa bỏ họ, phú họ thờ lạy binh trên trời, như chép trong sách các đấng tiên tri rằng: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, vậy phải các ngươi từng dâng con sinh của lễ cho ta, Trong bốn mươi năm nơi đồng vắng, Khi các ngươi khiêng nhà trại của Mo-lóc ngôi sao của thần Rom-phan, Tức những hình tượng các ngươi làm ra để thờ lạy chăng? Ta cũng sẽ đày các ngươi qua bên kia Ba-by-lôn.

Chớ để cho những kẻ kia cướp lấy phần thưởng chạy thi, kẻ giả đò khiêm nhượng muốn thờ lạy các thiên sứ. Họ theo những sự mình xem thấy, bởi tình xác thịt nổi lòng kiêu ngạo ích, không liên lạc với đầu, nhờ đầu đó cả thân thể xếp đặt kết hiệp bởi các lắt léo, được sự sanh trưởng từ Đức Chúa Trời đến.

Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. phải sự bỏ đạo đến trước, người tội ác, con của sự mất hiện ra, tức kẻ đối địch, tôn mình lên trên mọi sự người ta xưng Đức Chúa Trời hoặc người ta thờ lạy, rất đỗi ngồi trong đền Đức Chúa Trời, chính mình tự xưng Đức Chúa Trời.

Exemplos de adoração

Jó adorou em meio ao sofrimento. Esdras adorou na restauração. Paulo e Silas adoraram na prisão — e Deus respondeu.

Gióp bèn chổi dậy, áo mình, cạo đầu, đoạn xấp mình xuống đất thờ lạy, nói rằng: Tôi trần truồng lọt khỏi lòng mẹ, tôi cũng sẽ trần truồng về; Đức Giê-hô-va đã ban cho, Đức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Đức Giê-hô-va!

Chúng ca hát đối đáp ngợi khen cảm tạ Đức Giê-hô-va rằng: Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va, Ngài tốt lành, lòng thương xót của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên còn đến đời đời! Cả dân sự đều kêu reo tiếng lớn, ngợi khen Đức Giê-hô-va, bởi người ta xây nền đền thờ của Đức Giê-hô-va.

Bây giờ, ta, Nê-bu-cát-nết-sa, ngợi khen, tôn vinh, làm cả sáng Vua trên trời; mọi công việc Ngài đều chân thật, các đường lối Ngài đều công bình; kẻ nào bước đi kiêu ngạo, Ngài thể hạ xuống.

vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ôi! Ngài rất lớn, chẳng ai giống như Ngài, chẳng Đức Chúa Trời nào khác hơn Ngài, như lỗ tai chúng tôi đã nghe.

Chẳng ai thánh như Đức Giê-hô-va; Chẳng Chúa nào khác hơn Ngài! Không hòn đá nào như Đức Chúa Trời của chúng ta.

Khi ấy những người Lê-vi, Giê-sua, Cát-mi-ên, Ba-ni, Ha-sáp-nia, Sê-rê-bia, Hô-đia, Sê-ba-nia, Phê-ta-hia nói rằng: Hãy đứng dậy, ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, Đấng hằng đời đời kiếp kiếp! Đáng ngợi khen danh vinh hiển của Ngài, vẫn trổi cao hơn các sự chúc tụng các lời khen ngợi.

dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, sẽ không trái trên những cây nho; Cây ô-li-ve không sanh sản, chẳng ruộng nào sanh ra đồ ăn; Bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràn, không bầy trong chuồng nữa. Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, Tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi.

Bấy giờ các ngươi sẽ kêu cầu ta, sẽ đi cầu nguyện ta, ta sẽ nhậm lời.

Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em. Hỡi kẻ tội, hãy lau tay mình, ai hai lòng, hãy làm sạch lòng đi;

Seja o primeiro