1 Na ka huihuia nga tangata o Eparaima, a ka haere ki te raki, ka mea ki a Iepeta, He aha koe i haere ai ki te whawhai ki nga tamariki a Amona, a kihai i karanga i a matou kia haere tahi tatou? ka tahuna e matou tou whare i runga i a koe ki te ahi.2 Na ka mea a Iepeta ki a ratou, He nui ta matou whawhai ko toku iwi ki nga tamariki a Amona; a i taku karangatanga atu ki a koutou, kihai koutou i whakaora i ahau i roto i to ratou ringa.3 A, no toku kitenga kihai koutou i whakaora i ahau, whakamomori atu ana ahau ki te mate, a haere ana ki nga tamariki a Amona, na homai ana ratou e Ihowa ki toku ringa: a he aha ra koutou i haere mai ai ki ahau inaianei, whawhai ai?4 Katahi ka huihuia e Iepeta nga tangata katoa o Kireara, a ka whawhai ki a Eparaima: a patua iho a Eparaima e nga tangata o Kireara, mo ta ratou ki, He rerenga koutou, e nga Kireari, no Eparaima, i roto i nga Eparaimi, i roto i nga Manahi.5 Na ka nohoia e nga Kireari nga whitinga mo nga Eparaimi i Horano, a, i te meatanga a nga rerenga o nga Eparaimi, Kia whiti atu ahau; na ka mea nga tangata o Kireara ki a ia, No Eparaima koe? A no tana kianga, Kahore;6 Katahi ratou ka mea ki a ia, Tena, whakahuatia, Hiporete: na ko tana meatanga, Iporete: kahore hoki i taea e ia te tikanga o te whakahua. Na hopukia ana ia e ratou, a patua iho ki nga whitinga o Horano: A e wha tekau ma rua mano o nga Eparaimi i hinga i taua wa.7 A e ono nga tau i whakarite ai a Iepeta mo Iharaira. Na ka mate a Iepeta Kireari, a tanumia ana ki tetahi o nga pa o Kireara.8 A i muri i a ia na Ipitana i whakarite a Iharaira; no Peterehema ia.9 A e toru tekau ana tama, e toru tekau hoki ana tamahine; ko enei i tonoa e ia ki waho, e toru tekau ano hoki nga tamahine i tangohia mai e ia i waho ma ana tama. A e whitu nga tau i whakarite ai ia mo Iharaira.10 Na ka mate a Ipitana, a ka tanu mai ki Peterehema.11 A i muri i a ia na Erono Hepuroni i whakarite a Iharaira; a kotahi tekau nga tau i whakarite ai ia mo Iharaira.12 Na ka mate a Erono Hepuroni, a tanumia ana ki Aitarona ki te whenua o Hepurona.13 A, muri iho i a ia, na Aparono tama a Hirere o Piratono i whakarite a Iharaira.14 A e wha tekau ana tama, e toru tekau hoki nga tama a ana tama; e whitu tekau nga kuao kaihe i eke ai ratou: a e waru nga tau i whakarite ai ia mo Iharaira.15 Na ka mate a Aparono tama a hirere o Piratono, a ka tanumia ki Piratono ki te whenua o Eparaima, ki te whenua pukepuke o nga Amareki.
1 Người Ep-ra-im nhóm hiệp đến tại Xa-phôn, và nói cùng Giép-thê rằng: Vì sao ngươi đi đánh dân Am-môn không gọi chúng ta đi với? Chúng ta sẽ đốt nhà ngươi luôn với ngươi.2 Giép-thê đáp rằng: Ta và dân sự ta có cuộc tranh cạnh rất lớn với dân Am-môn; và khi ta kêu các ngươi, thì các ngươi không có giải cứu ta khỏi tay chúng nó.3 Thấy rằng các ngươi không đến tiếp cứu ta, thì ta đã liều mình đi đánh dân Am-môn, và Đức Giê-hô-va đã phó chúng nó vào tay ta. Vậy, sao ngày nay các ngươi lên đến ta đặng tranh chiến cùng ta?4 Kế ấy, Giép-thê hiệp lại hết thảy dân Ga-la-át, giao chiến cùng Ep-ra-im. Người Ga-la-át đánh bại người Ep-ra-im, vì họ nói rằng: Ớ dân Ga-la-át, giữa Ep-ra-im và Ma-na-se, các ngươi chỉ là là kẻ trốn tránh của Ep-ra-im đó thôi!5 Đoạn, người Ga-la-át xâm chiếm những chỗ cạn sông Giô-đanh, trước khi người Ep-ra-im đến đó. Và khi một người trốn nào của Ep-ra-im nói rằng: Xin để cho tôi đi qua, thì người Ga-la-át nói rằng: Ngươi có phải người Ep-ra-im chăng? Người đáp: Không.6 Chúng bèn nói cùng người rằng: Thế thì, hãy nói: Si-bô-lết; người nói Si-bô-lết, không thế nói cho rõ được; chúng bèn bắt họ và giết đi tại chỗ cạn của sông Giô-đanh. Trong lúc đó có bốn mươi hai ngàn người Ep-ra-im bị chết.7 Giép-thê, người Ga-la-át làm quan xét trong Y-sơ-ra-ên được sáu năm. Đoạn, người qua đời, và được chôn trong một thành ở xứ Ga-la-át.8 Sau người, có Iếp-san ở Bết-lê-hem làm quan xét trong Y-sơ-ra-ên.9 Người có ba mươi con trai và ba mươi con gái. Người gả các con gái ra ngoài nhà mình, và cưới ba mươi con gái ở ngoài làm vợ cho con trai mình. Người làm quan xét trong Y-sơ-ra-ên được bảy năm.10 Đoạn, Iếp-san qua đời, được chôn ở Bết-lê-hem.11 Sau Iếp-san, có Ê-lôn người Sa-bu-lôn, làm quan xét trong Y-sơ-ra-ên, phán xét Y-sơ-ra-ên trong mười năm.12 Đoạn, Ê-lôn, người Sa-bu-lôn, qua đời, được chôn tại A-gia-lôn, trong đất chi phái Sa-bu-lôn.13 Sau Ê-lôn, có Ap-đôn, con trai Hi-lên, người Phi-ra-thôn, làm quan xét trong Y-sơ-ra-ên.14 Người có bốn mươi con trai và ba mươi cháu trai; chúng nó đều cỡi bảy mươi lừa con; người phán xét Y-sơ-ra-ên tám năm.15 Đoạn, Ap-đôn, con trai Hi-lên, người Phi-ra-thôn, qua đời và được chôn tại Phi-ra-thôn, ở xứ Ep-ra-im, trên núi dân A-ma-léc.