1 He himene na Ahapa. E tu ana te Atua i roto i te whakaminenga o te Atua, e whakawa ana i waenganui i nga atua.2 Kia pehea ake te roa o ta koutou whakawa he, o ta koutou whakapai ki nga kanohi o te hunga kino. (Hera.3 Whakatikaia ta te ware, ta te pani: kia tika te whakawa mo te ngakau mamae, mo te rawakore.4 Whakaorangia te ware me te rawakore; tangohia mai ratou i te ringa o te tangata kino.5 Kahore o ratou matauranga, kakore hoki e mahara; e kopikopiko noa ana ratou i te pouri; e oioi ana nga turanga katoa o te whenua.6 I mea ahau, He atua koutou, he tama katoa na te Runga Rawa.7 Heoi ka pera koutou me te tangata, ka mate; ka hinga, ka pera me tetahi o nga piriniha.8 E ara, e te Atua, whakawakia te whenua: mou hoki nga tauiwi katoa.
1 Đức Chúa Trời đứng trong hội Đức Chúa Trời; Ngài đoán xét giữa các thần.2 Các ngươi sẽ đoán xét chẳng công bình, Và tây vị kẻ ác cho đến chừng nào?3 Hãy đoán xét kẻ khốn cùng và ngươi mồ côi; Hãy xử công bình cho người buồn rầu và kẻ túng ngặt.4 Khá cứu vớt kẻ khốn cùng và người thiếu thốn, Giải họ khỏi tay kẻ ác.5 Chúng nó không biết chi, cũng chẳng hiểu chi; Chúng nó đi qua đi lại trong sự tối tăm: Các nền trái đất đều rúng động.6 Ta đã nói: Các ngươi là thần, Hết thảy đều là con trai của Đấng Chí cao.7 Dầu vậy, các ngươi sẽ chết như loài người, sa ngã như một quan trưởng.8 Hỡi Đức Chúa Trời, hãy chổi dậy, đoán xét thế gian; Vì Chúa sẽ được muôn dân làm cơ nghiệp.