Pular para o conteúdo
Publicidade

Milagres de Jesus

Por Bíblia Online

Os Evangelhos registram dezenas de milagres realizados por Jesus — curas, ressurreições, domínio sobre a natureza e libertações. Cada milagre revelava sua divindade e compaixão.

Curas de cegos e surdos

Jesus devolveu a visão aos cegos e a audição aos surdos, manifestando seu poder sobre toda enfermidade e deficiência.

Đức Chúa Jêsus đó ra đi, hai người theo Ngài kêu rằng: Hỡi con cháu vua Đa-vít, xin thương chúng tôi cùng! Khi Ngài đã vào nhà rồi, hai người đến; Ngài bèn phán rằng: Hai ngươi tin ta làm được điều hai ngươi ao ước sao? Họ thưa rằng: Lạy Chúa được. Ngài bèn rờ mắt hai người phán rằng: Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy. Mắt hai người liền mở. Đức Chúa Jêsus lấy giọng nghiêm phán rằng: Hãy giữ, đừng cho ai biết chuyện nầy. Song lúc hai người ra khỏi nhà, thì đồn danh tiếng Ngài khắp cả xứ.

Đang khi Đức Chúa Jêsus môn đồ ra khỏi thành Giê-ri-cô, thì một đoàn dân đông theo Ngài. Nầy, hai người ngồi bên đường, nghe nói Đức Chúa Jêsus qua đó, thì kêu lên rằng: Lạy Chúa, con cháu vua Đa-vít, xin thương xót chúng tôi! Chúng rầy hai người ấy, biểu nín đi; nhưng họ kêu lớn hơn nữa, rằng: Lạy Chúa, con cháu vua Đa-vít, xin thương xót chúng tôi! Đức Chúa Jêsus dừng lại, gọi hai người đến, phán rằng: Các ngươi muốn ta làm chi cho? Họ thưa rằng: Lạy Chúa, xin cho mắt chúng tôi được mở ra. Đức Chúa Jêsus động lòng thương xót, bèn rờ đến mắt họ; tức thì hai người thấy được đi theo Ngài.

Kế đó, Đức Chúa Jêsus môn đồ đi đến làng Bết-sai-đa. Người ta đem cho Ngài một người cầu xin Ngài rờ đến người. Ngài bèn nắm tay người , dắt ra ngoài làng, thấm nước miếng trên mắt người, đặt tay trên người, hỏi, thấy chi không? Người ngó lên rồi thưa rằng: Tôi thấy người ta, nhìn họ đi giống như cây. Rồi Đức Chúa Jêsus lại đặt tay trên mắt người; người nhìn xem, được sáng mắt, thấy ràng cả thảy. Đức Chúa Jêsus khiến người về nhà, truyền rằng: Đừng trở vào trong làng.

Đức Chúa Jêsus lìa bờ cõi thành Ty-rơ, qua thành Si-đôn trải địa phận Đê-ca-bô-lơ, đến biển Ga-li-lê. Người ta đem một người điếc ngọng đến cùng Ngài, xin Ngài đặt tay trên người. Ngài đem riêng người ra, cách xa đám đông, rồi để ngón tay vào lỗ tai người, thấm nước miếng xức lưỡi người. Đoạn Ngài ngửa mặt lên trời, thở ra phán cùng người rằng: Eùp-pha-ta! nghĩa : Hãy mở ra! Tức thì tai được mở ra, lưỡi được thong thả, người nói ràng. Đức Chúa Jêsus cấm chúng chớ nói điều đó cùng ai; song Ngài càng cấm người ta lại càng nói đến nữa. Chúng lại lấy làm lạ quá đỗi rằng: Ngài làm mọi việc được tốt lành: khiến kẻ điếc nghe, kẻ câm nói vậy!

Kế đó, Đức Chúa Jêsus môn đồ đến thành Giê-ri-cô. Ngài môn đồ cùng một đoàn dân đông đang từ đó lại đi, thì một người ăn mày tên Ba-ti-mê, con trai của Ti-mê, ngồi bên đường. đã nghe nói ấy Đức Chúa Jêsus, người Na-xa-rét, người vùng la lên rằng: Hỡi Đức Chúa Jêsus, con vua Đa-vít, xin thương tôi cùng! nhiều kẻ rầy người, biểu nín đi; song người lại kêu lớn hơn nữa rằng: Hỡi con vua Đa-vít, xin thương tôi cùng! Đức Chúa Jêsus dừng lại, phán rằng: Hãy kêu người đến. Chúng kêu người đến, nói rằng: Hãy vững lòng, đứng dậy, Ngài gọi ngươi. Người bỏ áo ngoài, bước tới đến cùng Đức Chúa Jêsus. Đức Chúa Jêsus bèn cất tiếng phán rằng: Ngươi muốn ta làm chi cho ngươi? Người thưa rằng: Lạy thầy, xin cho tôi được sáng mắt. Đức Chúa Jêsus phán: Đi đi, đức tin ngươi đã chữa lành ngươi rồi. (10-53) Tức thì người được sáng mắt, đi theo Đức Chúa Jêsus trên đường.

Đức Chúa Jêsus đến gần thành Giê-ri-cô, một người đui ngồi xin bên đường, nghe đoàn dân đi qua, bèn hỏi việc đó. Người ta trả lời rằng: Aáy Jêsus, người Na-xa-rét đi qua. Người đui bèn kêu lên rằng: Lạy Jêsus, con vua Đa-vít, xin thương xót tôi cùng! Những kẻ đi trước rầy người cho nín đi; song người càng kêu lớn hơn nữa rằng: Lạy con vua Đa-vít, xin thương xót tôi cùng! Đức Chúa Jêsus dừng lại, truyền đem người đến. Khi người đui lại gần, thì Ngài hỏi rằng: Ngươi muốn ta làm cho? Thưa rằng: Lạy Chúa, xin cho tôi được sáng mắt lại. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy sáng mắt lại; đức tin của ngươi đã chữa lành ngươi. Tức thì, người sáng mắt, đi theo Đức Chúa Jêsus, ngợi khen Đức Chúa Trời. Hết thảy dân chúng thấy vậy, đều ngợi khen Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Jêsus vừa đi qua, thấy một người từ thuở sanh ra. Môn đồ hỏi Ngài rằng: Thưa thầy ai đã phạm tội, người hay cha mẹ người, người sanh ra thì như vậy? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Đó chẳng phải tại người hay tại cha mẹ đã phạm tội; nhưng ấy để cho những việc Đức Chúa Trời được tỏ ra trong người. Trong khi còn ban ngày, ta phải làm trọn những việc của Đấng đã sai ta đến; tối lại, thì không ai làm việc được. Đang khi ta còn thế gian, ta sự sáng của thế gian. Nói xong, Ngài nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, đem xức trên mắt người . Đoạn, Ngài phán cùng người rằng: Hãy đi, rửa nơi ao Si-lô-ê (nghĩa chịu sai đi). Vậy, người đi đến ao đó, rửa, trở lại, thì được thấy .

Curas de paralíticos e enfermos

Paralíticos caminharam, leprosos ficaram limpos e todo tipo de doença foi curada pelo toque e pela palavra de Jesus.

Nầy, một người phung đến gần, lạy Ngài, thưa rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa khứng, chắc thể làm cho tôi sạch được. Đức Chúa Jêsus giơ tay rờ người, phán rằng: Ta khứng, hãy sạch đi. Tức thì người phung được sạch. Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng người rằng: Hãy giữ, chớ nói cùng ai; song hãy đi tỏ mình cùng thầy cả, dâng của lễ theo như Môi-se dạy, để làm chứng cho họ.

Nầy, người đem lại cho Ngài một người đau bại nằm trên giường. Đức Chúa Jêsus thấy đức tin của các người đó, thì phán cùng người bại rằng: Hỡi con, hãy vững lòng, tội lỗi con đã được tha. Khi ấy, một vài thầy thông giáo đều nghĩ thầm rằng: Người nầy nói lộng ngôn. Song Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng mấy thầy đó, thì phán rằng: Nhân sao trong lòng các ngươi ác tưởng làm vậy? Trong hai lời nầy: một nói, tội lỗi ngươi đã được tha; hai nói, ngươi hãy đứng dậy đi, thì lời nào dễ nói hơn? Vả, hầu cho các ngươi biết Con người thế gian quyền tha tội, thì Ngài phán cùng người bại rằng: Hãy đứng dậy, vác lấy giường, trở về nhà ngươi. Người bại liền dậy trở về nhà mình.

đó, một người teo một bàn tay. kẻ hỏi Ngài rằng: Trong ngày Sa-bát, phép chữa kẻ bịnh hay không? Aáy họ ý kiếm dịp kiện Ngài. Ngài bèn phán cùng họ rằng: Ai trong vòng các ngươi một con chiên, nếu đang ngày Sa-bát, bị xuống hầm, thì không kéo lên sao? Huống chi người ta trọng hơn con chiên dường nào! Vậy, trong ngày Sa-bát phép làm việc lành. Đoạn, Ngài phán cùng người tay teo rằng: Hãy giơ tay ra. Người liền giơ tay, thì tay nầy cũng lành như tay kia.

Vả, gia Si-môn đang nằm trên giường, đau rét; tức thì chúng thưa với Ngài về chuyện người. Ngài bèn lại gần, cầm tay người đỡ dậy; bịnh rét dứt đi, người bắt tay hầu hạ.

một người phung đến cùng Ngài, quì xuống cầu xin rằng: Nếu Chúa khứng, thể khiến tôi sạch được. Đức Chúa Jêsus động lòng thương xót, giơ tay rờ người, phán rằng: Ta khứng, hãy sạch đi. Liền khi đó, phung lặn mất, người trở nên sạch.

Bấy giờ mấy kẻ đem tới cho Ngài một người đau bại, bốn người khiêng. Nhưng, đông người, không lại gần Ngài được, nên dở mái nhà ngay chỗ Ngài ngồi, rồi do lỗ đó dòng giường người bại nằm xuống. Đức Chúa Jêsus thấy đức tin họ, bèn phán cùng kẻ bại rằng: Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha. Vả, mấy thầy thông giáo ngồi đó, nghĩ thầm rằng: Sao người nầy nói như vậy? Người nói phạm thượng đó! Ngoài một mình Đức Chúa Trời, còn ai tha tội được chăng? Đức Chúa Jêsus trong trí đã hiểu họ tự nghĩ như vậy, tức thì phán rằng: Sao các ngươi bàn luận trong lòng thể ấy? Nay bảo kẻ bại rằng: Tội ngươi đã được tha; hay bảo người rằng: Hãy đứng dậy vác giường đi; hai điều ấy điều nào dễ hơn? Vả, để cho các ngươi biết Con người thế gian quyền tha tội, thì Ngài phán cùng kẻ bại rằng: Ta biểu ngươi, hãy đứng dậy, vác giường đi về nhà. Kẻ bại đứng dậy, tức thì vác giường đi ra trước mặt thiên hạ; đến nỗi ai nấy đều lấy làm lạ, ngợi khen Đức Chúa Trời, rằng: Chúng tôi chưa hề thấy việc thể nầy.

Lần khác, Đức Chúa Jêsus vào nhà hội, đó một người nam teo bàn tay. Chúng rình xem thử Ngài chữa người đó trong ngày Sa-bát chăng, đặng cáo Ngài. Ngài phán cùng người teo tay rằng: hãy dậy, đứng chính giữa đây. rồi Ngài hỏi họ rằng: trong ngày Sa-bát, nên làm việc lành hay việc dữ, cứu người hay giết người? Nhưng họ đều nín lặng. Bấy giờ, Ngài lấy mắt liếc họ, vừa giận vừa buồn lòng họ cứng cỏi, rồi phán cùng người nam rằng: hãy giơ tay ra. Người giơ ra, thì tay được lành.

Đức Chúa Jêsus đang trong thành kia, một người mắc bịnh phung đầy mình, thấy Ngài thì sấp mặt xuống đất, nài xin rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa khứng, chắc thể làm cho tôi được sạch! Đức Chúa Jêsus giơ tay rờ đến người ấy, phán rằng: Ta khứng, hãy sạch đi. Tức thì, bịnh phung liền hết.

Bấy giờ, mấy người khiêng một kẻ đau bại trên giường, kiếm cách đem vào để trước mặt Đức Chúa Jêsus. Nhân người ta đông lắm, không biết bởi đâu qua, họ bèn trèo lên mái nhà, dỡ ngói ra, dòng người giường nhỏ xuống trước mặt Ngài, giữa đám đô hội. Đức Chúa Jêsus thấy đức tin của họ, bèn phán rằng: Hỡi người, tội lỗi ngươi đã được tha. Các thầy thông giáo người Pha-ri-si bèn nghị luận rằng: Người nầy ai nói phạm thượng vậy? Ngoài Đức Chúa Trời, ai tha tội được sao? Nhưng Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng họ, cất tiếng phán rằng: Các ngươi nghị luận trong lòng? Nay nói rằng: Tội ngươi đã được tha, hoặc rằng: Ngươi hãy đứng dậy đi, thì bên nào dễ hơn? Vả, hầu cho các ngươi biết Con người thế gian quyền tha tội: Ngài phán cùng kẻ bại rằng: Ta biểu ngươi đứng dậy, vác giường trở về nhà. Tức thì kẻ bại đứng dậy trước mặt chúng, vác giường mình đã nằm, đi về nhà, ngợi khen Đức Chúa Trời.

Một ngày Sa-bát khác, Đức Chúa Jêsus vào nhà hội dạy dỗ. Tại đó, một người bàn tay hữu bị teo. Vả, các thầy thông giáo người Pha-ri-si chăm chỉ xem Ngài, coi thử Ngài chữa bịnh trong ngày Sa-bát chăng, để tìm dịp cáo Ngài. Nhưng Ngài biết ý tưởng họ, nên phán cùng người teo tay rằng: Hãy chờ dậy, đứng giữa chúng ta. Người ấy chờ dậy, đứng lên. Đức Chúa Jêsus liền phán cùng họ rằng: Ta hỏi các ngươi: Trong ngày Sa-bát, nên làm điều lành hay làm điều dữ, nên cứu người hay giết người? Đoạn, Ngài lấy mắt liếc khắp mọi người xung quanh mình, rồi phán cùng người bịnh rằng: Hãy giơ tay ra. Người giơ ra, thì tay được lành.

Khi Đức Chúa Jêsus rao giảng xong mọi lời ấy trước mặt dân chúng nghe rồi, thì Ngài vào thành Ca-bê-na-um. Vả, một thầy đội kia đứa đầy tớ rất thiết nghĩa đau gần chết, nghe nói Đức Chúa Jêsus, bèn sai mấy trưởng lão trong dân Giu-đa xin Ngài đến chữa cho đầy tớ mình. Mấy người đó đến cùng Đức Chúa Jêsus, nài xin rằng: Thầy đội thật đáng cho thầy nhậm điều nầy; người yêu dân ta, đã cất nhà hội cho chúng tôi. Đức Chúa Jêsus bèn đi với họ. Khi Ngài gần tới nhà, thầy đội sai bạn hữu mình đi thưa Ngài rằng: Lạy Chúa, xin đừng tự phiền đến thế, tôi không đáng rước Chúa vào nhà tôi. Tôi cũng nghĩ mình không đáng đến cùng Chúa; song xin phán một lời, thì đầy tớ tôi sẽ được lành. chính mình tôi người thuộc dưới quyền kẻ khác, tôi cũng quân lính dưới quyền tôi; tôi biểu tên nầy rằng: Hãy đi! thì đi; biểu tên khác rằng: Hãy đến! thì đến; biểu đầy tớ tôi rằng: Hãy làm việc nầy! thì làm. Đức Chúa Jêsus nghe những lời ấy, lấy làm lạ cho thầy đội, bèn xây lại cùng đoàn dân theo mình, phán rằng: Ta nói cùng các ngươi, dầu trong dân Y-sơ-ra-ên, ta cũng chưa thấy một đức tin lớn dường ấy. Những kẻ sai đến trở về nhà, thấy đầy tớ lành mạnh.

Vả, tại đó, người đàn mắc quỉ ám, phải đau liệt đã mười tám năm; cong lưng chẳng đứng thẳng được. Đức Chúa Jêsus vừa thấy, gọi phán rằng: Hỡi đàn kia, ngươi đã được cứu khỏi bịnh; Ngài bèn đặt tay trên mình người. Tức thì, người đứng thẳng lên được, ngợi khen Đức Chúa Trời.

Một ngày Sa-bát, Đức Chúa Jêsus vào nhà một người kẻ cả dòng Pha-ri-si để dùng bữa, những người đó dòm hành Ngài. Số một người mắc bịnh thủy thũng trước mặt Ngài. Đức Chúa Jêsus cất tiếng hỏi thầy dạy luật người Pha-ri-si rằng: Trong ngày Sa-bát, nên chữa bịnh hay không? Họ đều làm thinh. Ngài bèn đem người bịnh chữa lành, rồi cho về.

Đức Chúa Jêsus đang lên thành Giê-ru-sa-lem, trải qua bờ cõi xứ Sa-ma- ri Ga-li-lê. Nhằm khi vào làng kia, mười người phung đến đón rước Ngài, đứng đằng xa, lên tiếng rằng: Lạy Jêsus, lạy Thầy, xin thương xót chúng tôi cùng! Khi Ngài thấy họ liền phán rằng: Hãy đi, tỏ mình cùng thầy tế lễ. Họ đang đi thì phung lành hết thảy. một người trong bọn họ thấy mình đã được sạch, bèn trở lại, lớn tiếng khen ngợi Đức Chúa Trời; lại đến sấp mặt xuống đất, nơi chân Đức Chúa Jêsus, tạ ơn Ngài. Vả, người đó người Sa-ma-ri. Đức Chúa Jêsus bèn cất tiếng phán rằng: Không phải mười người đều được sạch cả sao? Còn chín người kia đâu? Chỉ người ngoại quốc nầy trở lại ngợi khen Đức Chúa Trời ư! Ngài lại phán rằng: Đứng dậy đi; đức tin ngươi đã cứu ngươi.

Kế đó, một ngày lễ của dân Giu-đa, Đức Chúa Jêsus lên thành Giê-ru-sa-lem. Số , tại thành Giê-ru-sa-lem, gần cửa Chiên, một cái ao, tiếng Hê-bơ-rơ gọi Bê-tết-đa, xung quanh ao năm cái vòm cửa. Những kẻ đau ốm, quáng, tàn tật, bại xuội nằm tại đó rất đông, chờ khi nước động; một thiên sứ thỉnh thoảng giáng xuống trong ao, làm cho nước động; lúc nước đã động rồi, ai xuống ao trước hết, bất k" mắc bịnh , cũng được lành. Nơi đó, một người bị bịnh đã được ba mươi tám năm. Đức Chúa Jêsus thấy người nằm, biết rằng đau đã lâu ngày, thì phán: Ngươi muốn lành chăng? Người bịnh thưa rằng: Lạy Chúa, tôi chẳng ai để quăng tôi xuống ao trong khi nước động; lúc tôi đi đến, thì kẻ khác đã xuống ao trước tôi rồi. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đứng dậy, vác giường ngươi đi. Tức thì người ấy được lành, vác giường mình đi. Vả, bấy giờ ngày Sa-bát.

Vậy, Ngài lại đến thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, nơi Ngài đã hóa nước thành rượu. Nguyên tại thành Ca-bê-na-um, một quan thị vệ kia, con trai người mắc bịnh. Quan đó nghe Đức Chúa Jêsus đã từ xứ Giu-đê đến xứ Ga-li-lê, bèn tìm đến xin Ngài xuống đặng chữa cho con mình gần chết. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Nếu các ngươi không thấy phép lạ điềm lạ, thì các ngươi chẳng tin! Quan thị vệ trả lời rằng: Lạy Chúa, xin Chúa xuống trước khi con tôi chưa chết! Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, con của ngươi sống. Người đó tin lời Đức Chúa Jêsus đã phán cho mình, bèn đi. Người đang đi dọc đường, các đầy tớ người đến đón rằng: Con trai chủ sống. Người bèn hỏi họ con trai mình đã thấy khá nhằm giờ nào. Họ trả lời rằng: Bữa qua, hồi giờ thứ bảy, cơn rét lui khỏi. Người cha nhận biết rằng ấy chính giờ đó Đức Chúa Jêsus đã phán cùng mình rằng: Con của ngươi sống; thì người với cả nhà đều tin. Aáy phép lạ thứ hai Đức Chúa Jêsus đã làm, khi Ngài từ xứ Giu-đê trở về xứ Ga-li-lê.

A mulher com fluxo de sangue

Uma mulher que sofria há doze anos tocou a orla do manto de Jesus e foi curada instantaneamente pela sua fé.

Nầy, một người đàn mắc bịnh mất huyết đã mười hai năm, lại gần sau lưng rờ trôn áo Ngài. người đàn ấy tự nghĩ rằng: Nếu ta chỉ rờ áo Ngài, thì cũng sẽ được lành. Đức Chúa Jêsus xây mặt lại, thấy người đàn , thì phán rằng: hỡi con, hãy vững lòng, đức tin con đã làm cho con được lành. Liền trong giờ đó, người đàn lành bịnh.

Vả, tại đó một người đàn bị bịnh mất huyết đã mười hai năm, bấy lâu chịu khổ sở trong tay nhiều thầy thuốc, hao tốn hết tiền của, không thấy đỡ ; bịnh lại càng nặng thêm. Người đã nghe tin về Đức Chúa Jêsus, bèn lẩn vào đằng sau giữa đám đông, rờ áo Ngài. người nói rằng: Nếu ta chỉ rờ đến áo Ngài thôi, thì ta sẽ được lành. Cùng một lúc ấy, huyết lậu liền cầm lại; người nghe trong mình đã được lành bịnh.

Bấy giờ, một người đàn đau bịnh mất huyết mười hai năm rồi, cũng đã tốn hết tiền của về thầy thuốc, không ai chữa lành được, đến đằng sau Ngài rờ trôn áo; tức thì huyết cầm lại. Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ai sờ đến ta? Ai nấy đều chối; Phi-e-rơ những người đồng bạn thưa rằng: Thưa thầy, đoàn dân vây lấy ép thầy. Đức Chúa Jêsus phán rằng: người đã rờ đến ta, ta nhận biết quyền phép từ ta ra. Người đàn thấy mình không thể giấu được nữa, thì run sợ, đến sấp mình xuống nơi chân Ngài, tỏ thật trước mặt dân chúng cớ nào mình đã rờ đến, liền được lành làm sao. Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi con gái ta, đức tin ngươi đã chữa lành ngươi; hãy đi cho bình an.

Ressurreições

Jesus ressuscitou mortos — a filha de Jairo, o filho da viúva de Naim e Lázaro. Ele é Senhor sobre a morte.

Đang khi Đức Chúa Jêsus phán các điều đó, xảy người cai nhà hội kia bước vào, quì lạy trước mặt Ngài thưa rằng: Con gái tôi mới chết; xin Chúa đến, đặt tay trên , thì sẽ được sống. Đức Chúa Jêsus bèn đứng dậy, cùng môn đồ Ngài đều đi theo người.

Khi Đức Chúa Jêsus đến nhà người cai nhà hội, thấy bọn thổi sáo, chúng làm om sòm, thì phán rằng: Các ngươi hãy lui ra; con gái nhỏ nầy chẳng phải chết đâu, nhưng ngủ. Chúng nghe thì chê cười Ngài. Bọn đó đã bị đuổi ra rồi, Ngài bèn vào, cầm lấy tay đứa gái, thì liền chờ dậy.

Bấy giờ, một người trong những người cai nhà hội, tên Giai ru, đến, thấy Đức Chúa Jêsus, bèn gieo mình nơi chân Ngài; nài xin rằng: Con gái nhỏ tôi gần chết; xin Chúa đến, đặt tay trên , đặng lành mạnh sống. Đức Chúa Jêsus đi với người; đoàn dân đông cùng đi theo lấn ép Ngài.

Khi đã đến nhà người cai nhà hội, Ngài thấy chúng làm om sòm, kẻ khóc người kêu lớn tiếng. Vào nhà rồi, Ngài phán cùng chúng rằng: Sao các ngươi làm ồn ào khóc lóc vậy? Đứa trẻ chẳng phải chết, song ngủ. Chúng nhạo báng Ngài. Ngài bèn đuổi chúng ra hết, đem cha mẹ đứa trẻ với những kẻ theo Ngài, cùng vào chỗ nằm. Ngài nắm tay phán rằng: Ta-li-tha Cu-mi; nghĩa : Hỡi con gái nhỏ, ta truyền cho mầy, hãy chờ dậy. Tức thì đứa gái chờ dậy bước đi, đã lên mười hai tuổi. Chúng rất lấy làm lạ.

Vậy, ta sẽ sánh người đời nầy với , họ giống như ai? Họ giống như con trẻ ngồi ngoài chợ, nói cùng nhau rằng: Ta đã thổi sáo, bay không nhảy múa; ta đã than vãn, bay không khóc. Vả, Giăng Báp-tít đã đến, không ăn bánh, không uống rượu; thì các ngươi nói rằng: Người mắc quỉ dữ. Con người đến, ăn uống, thì các ngươi nói rằng: Aáy đó người ham ăn uống, bạn với người thâu thuế kẻ tội. Song sự khôn ngoan được xưng công bình nhờ những việc làm của . một người Pha-ri-si mời Đức Chúa Jêsus ăn tại nhà mình. Vậy, khi đã vào nhà người Pha-ri-si thì Ngài ngồi bàn. Vả, một người đàn xấu nết thành đó, nghe nói Đức Chúa Jêsus đang ngồi bàn tại nhà người Pha-ri-si, bèn đem đến một bình ngọc trắng đựng đầy dầu thơm.

người cai nhà hội tên Giai-ru đến sấp mình xuống nơi chân Đức Chúa Jêsus, xin Ngài vào nhà mình. người con gái một, mười hai tuổi, gần chết. Khi Đức Chúa Jêsus đang đi, dân chúng lấn ép Ngài tứ phía.

Ngài còn đang phán, kẻ nhà người cai nhà hội đến nói với người rằng: Con gái ông chết rồi; đừng làm phiền thầy chi nữa. Song Đức Chúa Jêsus nghe vậy, phán cùng Giai-ru rằng: Đừng sợ, hãy tin thôi, thì con ngươi sẽ được cứu. Khi đến nhà, Ngài chỉ cho Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng, cha mẹ con ấy vào cùng Ngài. Ai nấy đều khóc lóc than vãn về con đó. Nhưng Ngài phán rằng: Đừng khóc, con nầy không phải chết, song ngủ. Họ biết thật chết rồi, bèn nhạo báng Ngài. nhưng Đức Chúa Jêsus cầm lấy tay con ấy, gọi lớn tiếng lên rằng: Con ơi, hãy chờ dậy! Thần linh bèn hoàn lại, con ấy chờ dậy liền; rồi Ngài truyền cho ăn. Cha mẹ lấy làm lạ; nhưng Ngài cấm nói lại sự xảy ra đó với ai.

một người đau, tên La-xa-rơ, Bê-tha-ni, làng của Ma-ri chị người Ma-thê. Ma-ri người đã xức dầu thơm cho Chúa, lấy tóc mình lau chân Ngài; chính anh người La-xa-rơ đang đau. Vậy, hai chị em sai người đến thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nầy, kẻ Chúa yêu mắc bịnh. Đức Chúa Jêsus vừa nghe lời đó, bèn phán rằng: Bịnh nầy không đến chết đâu, nhưng sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, hầu cho Con Đức Chúa Trời bởi đó được sáng danh. Vả, Đức Chúa Jêsus yêu Ma-thê, em người, La-xa-rơ. Khi Ngài nghe người nầy đau, bèn lại hai ngày nữa trong nơi Ngài đang . Rồi đó, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy trở về xứ Giu-đê. Môn đồ thưa rằng: Thưa thầy, hôm trước dân Giu-đa tìm ném đá thầy, thầy còn trở lại nơi họ sao! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Trong ban ngày chẳng phải mười hai giờ sao? Nếu ai đi ban ngày, thì không vấp, thấy sự sáng của thế gian nầy. Nhưng nếu ai đi ban đêm, thì vấp, không sự sáng. Ngài phán như vậy, rồi tiếp rằng: La-xa-rơ, bạn ta, đang ngủ; nhưng ta đi đánh thức người. Môn đồ thưa rằng: Thưa Chúa, nếu người ngủ, chắc sẽ được lành. Vả, Đức Chúa Jêsus phán lời đó chỉ về sự chết của La-xa-rơ; song môn đồ tưởng nói về giấc ngủ thường. Đức Chúa Jêsus bèn nói tỏ tường cùng môn đồ rằng: La-xa-rơ chết rồi.

Domínio sobre a natureza

Jesus acalmou a tempestade, andou sobre as águas e multiplicou pães. A natureza obedece à voz do seu Criador.

Kế đó, Đức Chúa Jêsus xuống thuyền, các môn đồ theo Ngài. Thình lình biển nổi bão lớn, đến nỗi sóng dậy phủ thuyền; nhưng Ngài đang ngủ. Các môn đồ đến gần, đánh thức Ngài, thưa rằng: Lạy Chúa, xin cứu chúng tôi với, chúng tôi hầu chết! Ngài phán rằng: Hỡi kẻ ít đức tin kia, cớ sao các ngươi sợ? Ngài bèn đứng dậy, quở gió biển; thì liền yên lặng như tờ. Những người đó lấy làm lạ, nói rằng: Người nầy ai, gió biển đều vâng lịnh người?

Đến chiều tối, môn đồ tới gần Ngài thưa rằng: đây vắng vẻ, trời tối rồi, xin thầy cho dân chúng về, để họ đi vào các làng đặng mua đồ ăn. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Không cần họ phải đi; chính các ngươi hãy cho họ ăn. Môn đồ thưa rằng: Chúng tôi đây năm cái bánh hai con thôi. Ngài phán rằng: Hãy đem đây cho ta. Ngài bèn truyền cho chúng ngồi xuống trên cỏ, đoạn, lấy năm cái bánh hai con đó, ngửa mặt lên trời tạ ơn; rồi bẻ bánh ra đưa cho môn đồ, môn đồ phát cho dân chúng. Ai nấy đều ăn no, còn bánh thừa lại thâu được đầy mười hai giỏ. Số người ăn ước chừng năm ngàn, không kể đàn con nít.

Song đến canh đêm ấy, Đức Chúa Jêsus đi bộ trên mặt biển đến cùng môn đồ.

Khi đó, Đức Chúa Jêsus gọi môn đồ đến phán rằng: Ta thương xót đoàn dân nầy; đã ba ngày cùng ta, bây giờ không chi ăn hết. Ta không muốn để họ nhịn đói về, e phải mệt lủi dọc đường chăng. Môn đồ thưa rằng: nơi đồng vắng nầy, ta dễ kiếm đâu đủ bánh, đặng cho dân đông dường ấy ăn no sao? Ngài phán hỏi môn đồ rằng: Các ngươi mấy cái bánh? Môn đồ thưa rằng: bảy cái bánh, cùng vài con . Ngài bèn biểu dân chúng ngồi xuống đất. Đoạn Ngài lấy bảy cái bánh ; tạ ơn rồi, bẻ bánh ra đưa cho môn đồ, môn đồ phân phát cho dân chúng. Ai nấy ăn no cả, còn bánh thừa lượm được bảy giỏ đầy. Số người ăn bốn ngàn, không kể đàn con trẻ.

Khi đã đến thành Ca-bê-na-um, những người thâu thuế của đền thờ đến hỏi Phi-e-rơ rằng: Thầy ngươi nộp tiền thuế chăng? Phi-e-rơ trả lời rằng: . khi Phi-e-rơ vào nhà, thì Đức Chúa Jêsus hỏi đón trước rằng: Hỡi Si-môn, ngươi nghĩ sao? Các vua thế gian thâu lương lấy thuế ai? Thâu của con trai mình hay của người ngoài? Phi-e-rơ thưa rằng: Người ngoài. Ngài phán rằng: Vậy thì các con trai được miễn thuế! Song le, để chúng ta khỏi làm gương xấu cho họ, thì ngươi hãy ra biển câu , bắt lấy con nào dính câu trước hết, banh miệng ra, sẽ thấy một đồng bạc trong. Hãy lấy đồng bạc đó, đem nộp thuế cho ta với ngươi.

Sáng mai, khi trở lại thành thì Ngài đói. Thấy một cây vả bên đường, Ngài bèn lại gần, song chỉ thấy những thôi, thì Ngài phán cùng cây vả rằng: Mầy chẳng khi nào sanh ra trái nữa! Cây vả tức thì khô đi. Môn đồ thấy điều đó, lấy làm k", nói rằng: Cớ sao trong giây phút cây vả liền khô đi vậy? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi đức tin, không nghi ngờ chi hết, thì chẳng những các ngươi làm được điều đã làm cho cây vả thôi, song dầu các ngươi biểu hòn núi nầy rằng: Hãy cất mình lên quăng xuống biển, điều đó cũng sẽ làm được. Trong khi cầu nguyện, các ngươi lấy đức tin xin việc bất k", thảy đều được cả.

Vả, cơn bão lớn nổi lên, sóng tạt vào thuyền, đến nỗi gần đầy nước; nhưng Ngài đang đằng sau lái, dựa gối ngủ. Môn đồ thức Ngài dậy thưa rằng: Thầy ôi, thầy không lo chúng ta chết sao? Ngài bèn thức dậy, quở gió phán cùng biển rằng: Hãy êm đi, lặng đi! Gió liền dứt đều yên lặng như tờ. Đoạn, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi sợ? Chưa đức tin sao? Môn đồ kinh hãi lắm, nói với nhau rằng: Vậy thì người nầy ai, gió biển cũng đều vâng lịnh người?

Trời đã chiều, môn đồ tới gần Ngài thưa rằng: Chỗ nầy vắng vẻ, trời đã chiều rồi; xin cho dân chúng về, để họ đi các nơi nhà quê các làng gần đây đặng mua đồ ăn. Ngài đáp rằng: Chính các ngươi phải cho họ ăn. Môn đồ thưa rằng: chúng tôi sẽ đi mua đến hai trăm đơ-ni-ê bánh để cho họ ăn hay sao? Ngài hỏi rằng: Các ngươi bao nhiêu bánh? Hãy đi xem thử. Môn đồ xem xét rồi, thưa rằng: Năm cái bánh hai con . Ngài bèn truyền cho môn đồ biểu chúng ngồi xuống hết thảy từng chòm trên cỏ xanh. Chúng ngồi xuống từng hàng, hàng thì một trăm, hàng thì năm chục. Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh hai con , ngước mắt lên trời, tạ ơn, rồi bẻ bánh ra trao cho môn đồ, đặng phát cho đoàn dân; lại cũng chia hai con cho họ nữa. Ai nấy ăn no rồi; người ta lượm được mười hai giỏ đầy những miếng bánh còn thừa lại. Vả, số những kẻ đã ăn chừng năm ngàn người.

Ngài thấy môn đồ chèo khó nhọc lắm, gió ngược. Lối canh đêm ấy, Ngài đi bộ trên biển đến cùng môn đồ; muốn đi trước. Môn đồ thấy Ngài đi bộ trên mặt biển ngỡ ma, nên la lên; ai nấy đều thấy Ngài sợ hoảng. nhưng Ngài liền nói chuyện với môn đồ phán rằng: Hãy yên lòng, ta đây đừng sợ chi. Ngài bèn bước lên thuyền với môn đồ, thì gió lặng. Môn đồ càng lấy làm lạ hơn nữa;

Những ngày đó, lại một đoàn dân đông theo Đức Chúa Jêsus. chúng không chi ăn, nên Ngài kêu các môn đồ phán rằng: Ta thương xót đoàn dân nầy: đã ba ngày nay, không rời bỏ ta, chẳng ăn. Nếu ta truyền cho nhịn đói trở về nơi họ , dọc đường chắc sẽ kém sức, mấy người đã đến từ nơi xa. Môn đồ thưa rằng: thể kiếm bánh đâu được trong đồng vắng nầy cho chúng ăn no ư? Ngài hỏi: Các ngươi bao nhiêu bánh? Thưa: bảy cái. Ngài bèn biểu đoàn dân ngồi xuống đất; đoạn lấy bảy cái bánh, tạ ơn, rồi bẻ ra trao cho môn đồ để phân phát, thì môn đồ phân phát cho đoàn dân. Môn đồ cũng mấy con nhỏ; Đức Chúa Jêsus tạ ơn rồi, cũng khiến đem phân phát như vậy. Ai nấy ăn no ; rồi người ta thâu được bảy giỏ những miếng thừa. Vả, những người ăn đó ước chừng bốn ngàn người. Đức Chúa Jêsus cho chúng về;

Sáng ngày, khi đã lìa làng Bê-tha-ni rồi, thì Ngài đói. Vừa thấy đàng xa một cây vả , Ngài đến đó xem hoặc chi chăng; song, tới gần rồi, chỉ thấy thôi, bấy giờ không phải mùa vả. Ngài bèn cất tiếng phán cùng cây vả rằng: Chẳng hề ai ăn trái của mầy nữa! Các môn đồ đều nghe lời ấy.

Sáng hôm sau, khi đi ngang qua, thấy cây vả đã khô cho tới rễ; bấy giờ Phi-e-rơ nhớ lại chuyện đã qua, thưa cùng Ngài rằng: Thầy, coi kìa! Cây vả thầy đã rủa nay khô đi rồi. Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán rằng: Hãy đức tin đến Đức Chúa Trời. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai sẽ biểu hòn núi nầy rằng: Phải cất mình lên, quăng xuống biển, nếu người chẳng nghi ngại trong lòng, nhưng tin chắc lời mình nói sẽ ứng nghiệm, thì điều đó sẽ thành cho. Bởi vậy ta nói cùng các ngươi: Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi. Khi các ngươi đứng cầu nguyện, nếu sự bất bình cùng ai, thì hãy tha thứ, để Cha các ngươi trên trời cũng tha lỗi cho các ngươi.

Khi Đức Chúa Jêsus, trên bờ hồ Ghê-nê-xa-rết, đoàn dân đông chen lấn nhau xung quanh Ngài đặng nghe đạo Đức Chúa Trời. Ngài thấy hai chiếc thuyền đậu gần bờ, người đánh đã xuống khỏi thuyền giặt lưới, thì Ngài lên một chiếc thuyền trong hai chiếc, chiếc của Si-môn, biểu người đem ra khỏi bờ một chút; rồi Ngài ngồi dạy dỗ dân chúng. Khi Ngài phán xong thì biểu Si-môn rằng: Hãy chèo ra ngoài sâu, thả lưới đánh . Si-môn thưa rằng: Thưa thầy, chúng tôi đã làm suốt đêm không bắt được chi hết; dầu vậy, tôi cũng theo lời thầy thả lưới. Họ thả lưới xuống, được nhiều lắm, đến nỗi lưới phải đứt ra. Họ bèn ra vọi gọi đồng bạn mình thuyền khác đến giúp; bạn kia đến chở đầy hai chiếc thuyền, đến nỗi gần chìm. Si-môn Phi-e-rơ thấy vậy, liền sấp mình xuống ngang đầu gối Đức Chúa Jêsus, thưa rằng: Lạy Chúa, xin ra khỏi tôi, tôi người tội. Số , đánh dường ấy, nên Si-môn cùng mọi người với mình đều thất kinh; Gia-cơ Giăng con Xê-bê-đê, những kẻ đồng bạn với Si-môn cũng đồng một thể ấy. Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng Si-môn rằng: Đừng sợ chi, từ nay trở đi, ngươi sẽ nên tay đánh lưới người. Đoạn, họ đem thuyền vào bờ, bỏ hết thảy theo Ngài.

Một ngày kia, Ngài xuống thuyền với môn đồ, phán rằng: Hãy qua bên kia hồ; rồi đi. Khi thuyền đang chạy, thì Ngài ngủ. cơn bão nổi lên trong hồ, nước vào đầy thuyền, đang nguy hiểm lắm. Môn đồ bèn đến thức Ngài dậy, rằng: Thầy ôi, Thầy ôi, chúng ta chết! Nhưng Ngài, vừa thức dậy, khiến gió sóng phải bình tịnh thì liền bình tịnh yên lặng như tờ. Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Đức tin các ngươi đâu? Môn đồ sợ hãi bỡ ngỡ, nói với nhau rằng: Người nầy ai, khiến đến gió nước, cũng phải vâng lời người?

Một ngày kia, Ngài xuống thuyền với môn đồ, phán rằng: Hãy qua bên kia hồ; rồi đi. Khi thuyền đang chạy, thì Ngài ngủ. cơn bão nổi lên trong hồ, nước vào đầy thuyền, đang nguy hiểm lắm. Môn đồ bèn đến thức Ngài dậy, rằng: Thầy ôi, Thầy ôi, chúng ta chết! Nhưng Ngài, vừa thức dậy, khiến gió sóng phải bình tịnh thì liền bình tịnh yên lặng như tờ. Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Đức tin các ngươi đâu? Môn đồ sợ hãi bỡ ngỡ, nói với nhau rằng: Người nầy ai, khiến đến gió nước, cũng phải vâng lời người? Kế đó, ghé vào đất của dân Giê-ra-sê, ngang xứ Ga-li-lê.

Khi gần tối, mười hai sứ đồ đến gần Ngài thưa rằng: Xin truyền cho dân chúng về, để họ đến các làng các ấp xung quanh trọ kiếm chi ăn; chúng ta đây nơi vắng vẻ. Song Ngài phán rằng: Chính các ngươi hãy cho họ ăn. Các sứ đồ thưa rằng: thử chính mình chúng tôi không đi mua đồ ăn cho hết thảy dân nầy, thì chỉ năm cái bánh hai con thôi. Vả, bấy giờ độ năm ngàn người nam đó. Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Hãy biểu chúng ngồi từng hàng năm mươi người. Môn đồ làm theo lời; chúng ngồi xuống hết thảy. Đoạn, Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh hai con , ngước mắt lên trời, chúc tạ, rồi bẻ ra trao cho môn đồ, đặng phát cho đoàn dân. Ai nấy ăn no rồi, người ta thâu được mười hai giỏ đầy những miếng thừa.

Cách ba ngày sau, đám cưới tại thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, mẹ Đức Chúa Jêsus tại đó. Đức Chúa Jêsus cũng được mời đến dự đám với môn đồ Ngài. Vừa khi thiếu rượu, mẹ Đức Chúa Jêsus nói với Ngài rằng: Người ta không rượu nữa. Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi đàn kia, ta với ngươi sự chăng? Giờ ta chưa đến. Mẹ Ngài nói với những kẻ hầu bàn rằng: Người biểu chi, hãy vâng theo cả. Vả, tại đó sáu cái ché đá, định dùng về sự rửa sạch cho người Giu-đa, mỗi cái chứa hai ba lường nước. Đức Chúa Jêsus biểu họ rằng: Hãy đổ nước đầy những ché nầy; thì họ đổ đầy tới miệng. Ngài bèn phán rằng: Bây giờ hãy múc đi, đem cho kẻ coi tiệc. Họ bèn đem cho. Lúc kẻ coi tiệc nếm nước đã biến thành rượu (vả, người không biết rượu nầy đến bởi đâu, còn những kẻ hầu bàn múc nước thì biết ), bèn gọi chàng rể, nói rằng: Mọi người đều đãi rượu ngon trước, sau khi người ta uống nhiều rồi, thì kế đến rượu vừa vừa. Còn ngươi, ngươi lại giữ rượu ngon đến bây giờ. Aáy tại Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, Đức Chúa Jêsus làm phép lạ thứ nhất, tỏ bày sự vinh hiển của mình như vậy; môn đồ bèn tin Ngài.

Ngài phán điều đó đặng thử Phi-líp, chớ Ngài đã biết điều Ngài sẽ làm rồi. Phi-líp thưa rằng: Hai trăm đơ-ni-ê bánh không đủ phát cho mỗi người một ít. Một môn đồ, Anh-rê, em của Si-môn Phi-e-rơ, thưa rằng: Đây một đứa con trai, năm cái bánh mạch nha hai con ; nhưng đông người dường nầy, thì ngằn ấy thấm vào đâu? Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hãy truyền cho chúng ngồi xuống. Vả, trong nơi đó nhiều cỏ. Vậy, chúng ngồi xuống, số người ước được năm ngàn. Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bèn phân phát cho những kẻ đã ngồi; Ngài cũng lấy phát cho chúng nữa, ai muốn bao nhiêu mặc ý. Khi chúng đã ăn được no , Ngài phán với môn đồ rằng: Hãy lượm những miếng còn thừa, hầu cho không mất chút nào. Vậy, môn đồ lượm những miếng thừa của năm cái bánh mạch nha, sau khi người ta đã ăn rồi, chứa đầy mười hai giỏ.

Khi các môn đồ đã chèo ra độ chừng hai mươi lăm hay ba mươi ếch-ta-đơ, thấy Đức Chúa Jêsus đi trên mặt biển, gần tới chiếc thuyền, thì sợ hãi. Nhưng Ngài phán rằng: Aáy ta đây, đừng sợ chi! Bấy giờ, môn đồ muốn rước Ngài vào thuyền; tức thì chiếc thuyền đậu vào bờ, nơi định đi.

Rồi đó, Đức Chúa Jêsus lại hiện ra cùng môn đồ Ngài nơi gần biển Ti-bê-ri-át. Việc Ngài hiện ra như vầy: Si-môn Phi-e-rơ, Thô-ma gọi Đi-đim, Na-tha-na-ên nguyên thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, các con trai của Xê-bê-đê hai người môn đồ khác nữa nhóm lại cùng nhau. Si-môn Phi-e-rơ nói rằng: Tôi đi đánh . Các người kia trả lời rằng: Chúng tôi đi với anh. Các người ấy ra đi xuống thuyền, nhưng trong đêm đó, chẳng được chi hết. Đến sáng, Đức Chúa Jêsus đứng trên bờ, nhưng môn đồ không biết đó Đức Chúa Jêsus. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi các con, không chi ăn hết sao? Thưa rằng: Không. Ngài phán rằng: Hãy thả lưới bên hữu thuyền, thì các ngươi sẽ được. Vậy, các người ấy thả lưới xuống, được nhiều đến nổi không thể kéo lên nữa. Môn đồ Đức Chúa Jêsus yêu bèn nói với Phi-e-rơ rằng: Aáy Chúa! Khi Si-môn Phi-e-rơ đã nghe rằng ấy Chúa, bèn lấy áo dài quấn mình (đang trần) nhảy xuống nước. Các môn đồ khác đem thuyền trở lại, kéo tay lưới đầy , cách bờ chỉ chừng hai trăm cu-đê thôi. Lúc môn đồ đã lên bờ, thấy tại đó lửa than, trên để , bánh. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đem các ngươi mới đánh được đó lại đây. Si-môn Phi-e-rơ xuống thuyền, kéo tay lưới đầy một trăm năm mươi ba con lớn lên bờ; , dầu nhiều dường ấy, lưới vẫn không đứt.

Libertações

Jesus expulsou demônios com autoridade. Os espíritos impuros não resistiam à sua palavra e saíam imediatamente.

Khi Đức Chúa Jêsus vào thành Ca-bê-na-um, một thầy đội đến cùng Ngài, xin rằng: Lạy Chúa, đứa đầy tớ tôi mắc bịnh bại, nằm liệt nhà tôi, đau đớn lắm. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta sẽ đến, chữa cho được lành. Thầy đội thưa rằng: Lạy Chúa, tôi chẳng đáng rước Chúa vào nhà; xin Chúa chỉ phán một lời, thì đầy tớ tôi sẽ được lành. tôi dưới quyền người khác, tôi cũng quân lính dưới quyền tôi nữa; tôi biểu tên nầy rằng: hãy đi! thì đi; biểu tên kia rằng: Hãy đến! thì đến; dạy đầy tớ tôi rằng: Hãy làm việc nầy! thì làm. Đức Chúa Jêsus nghe lời đó rồi, lấy làm lạ, phán cùng những kẻ đi theo rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta chưa hề thấy ai trong dân Y-sơ-ra-ên đức tin lớn dường ấy. Ta cũng nói cùng các ngươi, nhiều người từ đông phương, tây phương sẽ đến, ngồi đồng bàn với Aùp-ra-ham, Y-sác Gia-cốp trong nước thiên đàng. Nhưng các con bổn quốc sẽ bị liệng ra chốn tối tăm ngoài, tại đó sẽ khóc lóc nghiến răng. Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng thầy đội rằng: Hãy về, theo như điều ngươi tin thì sẽ được thành vậy. chính trong giờ ấy, đứa đầy tớ được lành.

Đức Chúa Jêsus qua bờ bên kia rồi, tại xứ dân Ga-đa-ra, gặp hai người bị quỉ ám nơi mồ đi ra, bộ dữ tợn lắm, đến nỗi không ai dám đi ngang qua đường đó. Chúng la lên rằng: Lạy Con Đức Chúa Trời, chúng tôi với Ngài can hệ chăng? phải Ngài đến đây để làm khổ chúng tôi trước k" không? Vả, khi ấy, đàng xa một bầy heo đông đang ăn. Các quỉ xin Đức Chúa Jêsus rằng: Nếu Chúa đuổi chúng tôi ra, xin cho nhập vào bầy heo đó. Ngài biểu các quỉ rằng: Hãy đi đi! Các quỉ ra khỏi hai người đó, liền nhập vào bầy heo. Tức thì cả bầy trên dốc núi nhảy xuống biển, thảy đều chết chìm dưới nước. Những đứa chăn heo bèn chạy trốn, trở về thành, thuật các chuyện đã xảy ra, chuyện hai người bị quỉ ám nữa. Cả thành liền ra đón Đức Chúa Jêsus; khi vừa thấy Ngài, thì xin Ngài đi ra khỏi xứ mình.

Khi đi khỏi chỗ đó, thì người ta đem tới cho Ngài một người câm bị quỉ ám. Quỉ bị đuổi ra rồi, thì người câm nói được. Đoàn dân lấy làm lạ nói rằng: Không hề bao giờ thấy sự như vậy trong dân Y-sơ-ra-ên.

Bấy giờ kẻ đem đến cho Đức Chúa Jêsus một người mắc quỉ ám, đui câm; Ngài chữa cho, đến nỗi người câm nói thấy được.

Đức Chúa Jêsus đi từ đó, vào bờ cõi thành Ty-rơ thành Si-đôn. Xảy một người đàn xứ Ca-na-an, từ xứ ấy đến, kêu lên rằng: Lạy Chúa, con cháu vua Đa-vít, xin thương xót tôi cùng! Con gái tôi mắc quỉ ám, khốn cực lắm. Nhưng Ngài chẳng đáp một lời. Môn đồ bèn đến gần, cố nài xin rằng: Xin thầy truyền cho đàn ấy về, người kêu van đằng sau chúng ta. Ngài đáp rằng: Ta chịu sai đến đây, chỉ các con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên đó thôi. Song người đàn lại gần, lạy Ngài thưa rằng: Lạy Chúa, xin Chúa giúp tôi cùng! Ngài đáp rằng: Không nên lấy bánh của con cái quăng cho chó con ăn. Người đàn lại thưa rằng: Lạy Chúa, thật như vậy, song mấy con chó con ăn những miếng bánh vụn trên bàn chủ rớt xuống. Ngài bèn phán rằng: Hỡi đàn kia, ngươi đức tin lớn; việc phải xảy ra theo ý ngươi muốn! Cũng một giờ đó, con gái người liền được lành.

Khi Đức Chúa Jêsus môn đồ đã trở lại cùng đoàn dân, thì một người đến gần, quì trước mặt Ngài, thưa rằng: Lạy Chúa, xin Chúa thương đến con trai tôi! mắc bệnh phong điên, phải chịu đau đớn quá; thường khi vào lửa, xuống nước. Tôi đã đem cho môn đồ Chúa, nhưng chữa không được. Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi dòng dõi không tin gian kia, ta sẽ với các ngươi cho đến chừng nào? Ta sẽ nhịn nhục các ngươi cho đến khi nào? Hãy đem con đến đây cho ta. Rồi Đức Chúa Jêsus quở trách quỉ, quỉ liền ra khỏi đứa trẻ, từ giờ đó đứa trẻ được lành.

Vả, cũng một lúc ấy, trong nhà hội người bị ma ám, kêu lên rằng: Hỡi Jêsus, người Na-xa-rét, chúng tôi với Ngài sự chăng? Ngài đến để diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài ai: Đấng Thánh của Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Jêsus nghiêm trách rằng: Hãy nín đi, ra khỏi người nầy. ma bèn vật mạnh người ấy, cất tiếng kêu lớn, ra khỏi người.

Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ qua đến bờ biển bên kia, trong miền Giê-ra-sê. Ngài mới trên thuyền bước xuống, tức thì một người bị ma ám từ nơi mồ mả đi ra đến trước mặt Ngài. Người thường nơi mồ mả, dẫu dùng xiềng sắt cũng chẳng ai cột trói được nữa; nhiều lần người bị cùm chân hoặc bị xiềng, rồi bẻ xiềng tháo cùm, không ai sức trị được. Người cứ nơi mồ mả trên núi, ngày đêm kêu la lấy đá đánh bầm mình. Người thấy Đức Chúa Jêsus đằng xa, chạy lại sấp mình xuống trước mặt Ngài, kêu lớn rằng: Hỡi Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời rất cao, tôi với Ngài sự chăng? Tôi nhân danh Đức Chúa Trời khẩn cầu Ngài, xin đừng làm khổ tôi. Đức Chúa Jêsus vừa phán cùng rằng: Hỡi ma, phải ra khỏi người nầy. Ngài lại hỏi rằng: Mầy tên ? Thưa rằng: Tên tôi Quân đội; chúng tôi đông. lại van xin Ngài đừng đuổi chúng ra khỏi miền đó. Vả, chỗ đó, tại trên núi, một bầy heo đông đang ăn. Các quỉ cầu xin Ngài rằng: Xin khiến chúng tôi đến với bầy heo ấy, để chúng tôi nhập vào chúng . Đức Chúa Jêsus cho phép. Các ma ra khỏi người đó, bèn nhập vào bầy heo, bầy heo từ trên bực cao vụt đâm đầu xuống biển. độ hai ngàn con heo chết chìm cả dưới biển. Những kẻ chăn heo trốn, đồn tin nầy ra khắp trong thành trong nhà quê;

Nhưng các ngươi nói rằng: Nếu ai nói với cha hay mẹ mình rằng: Mọi điều tôi sẽ giúp cha mẹ được, thì đã co-ban (nghĩa sự dâng cho Đức Chúa Trời), vậy người ấy không được phép giúp cha mẹ mình sự nữa; dường ấy, các ngươi lấy lời truyền khẩu mình lập ra bỏ mất lời Đức Chúa Trời. Các ngươi còn làm nhiều việc khác nữa giống như vậy. Bấy giờ, Ngài lại kêu đoàn dân phán rằng: Các ngươi ai nấy hãy nghe ta hiểu: Chẳng sự từ ngoài người vào trong thể làm dáy người được; nhưng sự từ trong người ra, đó sự làm dáy người.

Đoạn, Ngài từ đó đi đến bờ cõi thành Ty-rơ thành Si-đôn. Ngài vào một cái nhà, không muốn cho ai biết mình, song không thể ẩn được. một người đàn , con gái người bị ma ám, đã nghe nói về Ngài, tức thì vào gieo mình dưới chân Ngài. Đàn ấy người Gờ-réc, dân Sy-rô-phê-ni-xi. Người xin Ngài đuổi quỉ ra khỏi con gái mình. Đức Chúa Jêsus phán cùng người rằng: Hãy để con cái ăn no trước đã; không lẽ lấy bánh của con cái quăng cho chó. Song người đáp lại rằng: Lạy Chúa, hẳn vậy rồi; nhưng chó dưới bàn ăn mấy miếng bánh vụn của con cái. Ngài bèn phán: Hãy đi, lời ấy, quỉ đã ra khỏi con gái ngươi rồi. Khi người trở về nhà, thấy đứa trẻ nằm trên giường, quỉ đã bị đuổi khỏi.

Một người trong đám đông thưa rằng: Lạy thầy, tôi đã đem con trai tôi tới cho thầy; bị quỉ câm ám, không cứ chỗ nào quỉ ám vào thì làm cho nổi kinh phong, sôi bọt mồm, nghiến răng, rồi mòn mỏi đi; tôi đã xin môn đồ thầy đuổi quỉ ấy, song đuổi không được. Đức Chúa Jêsus bèn đáp rằng: Hỡi dòng dõi chẳng tin kia, ta sẽ cùng các ngươi cho đến chừng nào? Ta sẽ chịu các ngươi cho đến khi nào? Hãy đem con đến cho ta. Chúng bèn đem đứa trẻ cho Ngài. Đứa trẻ vừa thấy Đức Chúa Jêsus, tức thì quỉ vật mạnh , ngã xuống đất, rồi lăn lóc sôi bọt miếng ra. Đức Chúa Jêsus hỏi cha rằng: Điều đó xảy đến cho đã bao lâu? Người cha thưa rằng: Từ khi còn nhỏ. Quỉ đã lắm phen quăng trong lửa dưới nước, để giết đi; nhưng nếu thầy làm được việc , xin thương xót chúng tôi giúp cho! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Sao ngươi nói: Nếu thầy làm được? Kẻ nào tin thì mọi việc đều được cả. Tức thì cha đứa trẻ la lên rằng: Tôi tin; xin Chúa giúp đỡ trong sự không tin của tôi! Khi Đức Chúa Jêsus thấy dân chúng chạy đến đông, thì Ngài quở trách ma phán cùng rằng: Hỡi quỉ câm điếc, ta biểu mầy phải ra khỏi đứa trẻ nầy, đừng ám nữa. Quỉ bèn la lớn tiếng lên, vật đứa trẻ mạnh lắm ra khỏi; đứa trẻ trở như chết vậy, nên nỗi nhiều người nói rằng: chết rồi. Nhưng Đức Chúa Jêsus nắm tay , nâng lên; thì đứng dậy.

Đức Chúa Jêsus ra khỏi nhà hội, vào nhà Si-môn. gia Si-môn đang đau rét nặng lắm. Người ta xin Ngài chữa cho, Ngài bèn nghiêng mình trên người, truyền cho cơn rét, rét liền lìa khỏi. Tức thì người chờ dậy hầu việc.

Khi Đức Chúa Jêsus lên bờ, một người thành ấy bị nhiều quỉ ám đi gặp Ngài. Đã lâu nay, người không mặc áo, không nhà, song nơi mồ mả. Người ấy vừa thấy Đức Chúa Jêsus thì la lên inh ỏi, đến gieo mình nơi chân Ngài, nói lớn tiếng rằng: Lạy Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời Rất Cao, tôi với Ngài sự chi chăng? Tôi cầu xin Ngài, đừng làm khổ tôi. Đức Chúa Jêsus đang truyền cho ma phải ra khỏi người đó đã ám từ lâu; dầu họ giữ người, xiềng còng chân lại, người cứ bẻ xiềng tháo còng, bị quỉ dữ đem vào nơi đồng vắng. Đức Chúa Jêsus hỏi người rằng: Mầy tên ? Người thưa rằng: Quân đội; nhiều quỉ đã ám vào người. Chúng bèn cầu xin Đức Chúa Jêsus đừng khiến mình xuống vực sâu. Vả, đó một bầy heo đông đang ăn trên núi. Các quỉ xin Đức Chúa Jêsus cho chúng nhập vào những heo ấy, Ngài bèn cho phép. Vậy, các quỉ ra khỏi người đó, nhập vào bầy heo, bầy heo từ trên bực cao đâm đầu xuống hồ chết chìm. Các kẻ chăn heo thấy vậy chạy trốn, đồn tin ấy ra trong thành trong nhà quê. Thiên hạ bèn đổ ra xem việc mới xảy ra; khi họ đến cùng Đức Chúa Jêsus, thấy người các quỉ mới ra khỏi ngồi dưới chân Đức Chúa Jêsus, mặc áo quần, bộ tỉnh táo, thì sợ hãi lắm.

Quả thật, ta nói cùng các ngươi, một vài người trong các ngươi đang đứng đây sẽ không chết trước khi chưa thấy nước Đức Chúa Trời. Độ tám ngày sau khi phán các lời đó, Đức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Giăng Gia-cơ đi với mình lên trên núi để cầu nguyện. Đang khi cầu nguyện, diện mạo Ngài khác thường, áo Ngài trở nên sắc trắng chói lòa. nầy, hai người nói chuyện cùng Ngài; ấy Môi-se Ê-li, hiện ra trong sự vinh hiển, nói về sự Ngài qua đời, sự sẽ phải ứng nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem.

Phi-e-rơ cùng đồng bạn mình buồn ngủ lắm, nhưng vừa tỉnh thức ra, thấy vinh hiển của Đức Chúa Jêsus hai đấng ấy đứng gần Ngài. Lúc hai đấng ấy lìa khỏi Đức Chúa Jêsus, Phi-e-rơ thưa Ngài rằng: Thưa thầy, chúng ta đây tốt lắm, hãy đóng ba trại, một cái cho thầy, một cái cho Môi-se một cái cho Ê-li. Phi-e-rơ không biết mình nói chi.

Một người trong đám đông kêu lên rằng: Lạy thầy, xin thầy đoái đến con trai tôi, con một tôi. Một quỉ ám , thình lình kêu la; quỉ vật dữ tợn, làm cho sôi bọt miếng, mình mẩy nát hết, rồi mới ra khỏi. Tôi đã xin môn đồ thầy đuổi quỉ đó, nhưng họ đuổi không được. Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi dòng dõi không tin bội nghịch kia, ta với các ngươi nhịn các ngươi cho đến chừng nào? Hãy đem con của ngươi lại đây. Đứa con trai vừa lại gần, quỉ nhào xuống đất, vật dữ tợn. Song Đức Chúa Jêsus quở nặng ma, chữa lành con trẻ ấy, giao lại cho cha . Ai nấy đều lấy làm lạ về quyền phép cao trọng của Đức Chúa Trời. Khi mọi người đang khen lạ các việc Đức Chúa Jêsus làm, Ngài phán cùng môn đồ rằng:

Đức Chúa Jêsus đuổi một quỉ câm; khi quỉ ra khỏi, người câm liền nói được. Dân chúng đều lấy làm lạ;

Một người trong các sứ đồ đánh đầy tớ của thầy cả thượng phẩm chém đứt tai bên hữu. Nhưng Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán rằng: Hãy để cho họ đến thế! Ngài bèn rờ tai đầy tớ ấy, làm cho được lành.

Hai người của Giăng sai đến đã đi rồi, Đức Chúa Jêsus mới phán cùng đoàn dân về việc Giăng rằng: Các ngươi đã đi xem chi nơi đồng vắng? Xem cây sậy bị gió rung chăng? Lại các ngươi còn đi xem ? Xem người ăn mặc tốt đẹp chăng? Kìa, những người mặc áo sang trọng, ăn sung sướng, thì trong đền đài các vua! Song, rốt lại, các ngươi đi xem ? Xem một đấng tiên tri ư? Phải, ta nói, một đấng trọng hơn tiên tri nữa. Aáy về đấng đó lời chép rằng: Nầy, ta sẽ sai sứ ta đến trước mặt ngươi, Người sẽ dọn đường trước ngươi. Ta nói cùng các ngươi, trong những người bởi đàn sanh ra, không ai lớn hơn Giăng Báp-tít đâu; nhưng trong nước Đức Chúa Trời, kẻ rất nhỏ còn lớn hơn Giăng vậy. Cả dân chúng cùng kẻ thâu thuế chịu Giăng làm phép báp-tem, đều xưng Đức Chúa Trời công bình. Song người Pha-ri-si cùng các thầy dạy luật không chịu Giăng làm phép báp-tem, nên chê bỏ ý Đức Chúa Trời định về mình.

Seja o primeiro