Esperança

Chúng ta hãy giữ vững không lay chuyển lời tuyên xưng về niềm hy vọng của chúng ta, vì Đấng đã hứa với chúng ta luôn luôn thành tín.

Hebreus 10:23

Cầu xin Đức Chúa Trời là nguồn hy vọng ban cho anh chị em đầy dẫy mọi sự vui mừng và bình an khi anh chị em tin cậy Ngài, đến nỗi anh chị em đầy tràn niềm hy vọng bởi quyền năng Thánh Linh!

Romanos 15:13

Đức tin là thực chất của những điều ta hy vọng, là bằng chứng của những việc ta không xem thấy.

Hebreus 11:1

Nhưng nếu chúng ta không thấy điều chúng ta hy vọng thì chúng ta tha thiết trông chờ trong kiên trì.

Romanos 8:25

Chính vì điều này mà chúng ta lao khổ và chiến đấu, vì chúng ta hy vọng vào Đức Chúa Trời hằng sống, Đấng Cứu Rỗi của toàn thể nhân loại, nhất là các tín hữu.

1 Timóteo 4:10

Thần của CHÚA ở trên TaVì CHÚA đã xức dầu cho TaĐặng loan báo tin mừng cho những kẻ nghèo khổ.Ngài sai Ta đi băng bó những tấm lòng tan vỡ,Công bố tự do cho những kẻ bị tù đầy,Loan tin phóng thích cho những người bị xiềng xích;

Isaías 61:1

Đức Chúa Trời muốn tỏ cho họ biết vinh quang phong phú của huyền nhiệm đó giữa dân ngoại, tức là Chúa Cứu Thế ở trong anh chị em, là hy vọng về vinh quang.

Colossenses 1:27

Hỡi tất cả những người trông cậy nơi CHÚA,Hãy vững lòng, mạnh mẽ.

Salmos 31:24

Phước cho người nào có Đức Chúa Trời của Gia-cốp giúp đỡVà biết trông cậy nơi CHÚA, Đức Chúa Trời mình;

Salmos 146:5

Đức Chúa Trời của tôi ôi! Tôi tin cậy nơi Ngài.Xin chớ để tôi bị hổ thẹn,Cũng đừng để kẻ thù reo mừng chiến thắng trên tôi.

Thật vậy, tất cả những người trông cậy nơi NgàiSẽ không bị hổ thẹn.Xin hãy để những kẻ bội tínBị hổ thẹn.

Salmos 25:2,3

CHÚA phán: “Vì chính Ta biết rõ chương trình Ta hoạch định cho các ngươi. Ta có chương trình bình an thịnh vượng cho các ngươi, chứ không phải tai họa. Ta sẽ ban cho các ngươi một tương lai đầy hy vọng.

Jeremias 29:11

Hỡi linh hồn ta, tại sao ngươi chán nản?Vì sao ngươi lo lắng trong mình ta?Hãy hy vọng nơi Đức Chúa Trời,Vì ta sẽ còn ca ngợi Ngài,Là Đấng Cứu Rỗi và Đức Chúa Trời hằng giúp đỡ ta.

Salmos 42:11

Vậy, ai có hy vọng này nơi Ngài thì phải sống trong sạch, cũng như Ngài vốn là Đấng thanh sạch.

1 João 3:3

Trong niềm hy vọng đó chúng ta đã được cứu; nhưng hy vọng mà đã thấy rồi thì không còn là hy vọng nữa; vì điều gì người ta thấy thì còn hy vọng gì nữa?

Nhưng nếu chúng ta không thấy điều chúng ta hy vọng thì chúng ta tha thiết trông chờ trong kiên trì.

Romanos 8:24,25

Nhưng trong lòng anh chị em hãy biệt riêng Chúa Cứu Thế làm Chúa. Luôn luôn sẵn sàng để trả lời cho bất cứ ai hỏi anh chị em lý do nào anh chị em có hy vọng đó. Phải làm điều này với sự nhu mì và kính trọng,

1 Pedro 3:15

Chính Ngài là nơi trú ẩn và là cái khiên bảo vệ tôi,Tôi hy vọng nơi lời Chúa.

Salmos 119:114

Chỉ có một thân thể và một Thánh Linh, cũng như chỉ có một niềm hy vọng cho anh chị em khi được kêu gọi.

Efésios 4:4

và hy vọng không làm hổ thẹn. Vì tình yêu thương của Đức Chúa Trời đổ đầy lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh là Đấng đã được ban cho chúng ta.

Romanos 5:5

Nhưng ai trông cậy nơi CHÚASẽ được phục hồi sức mới,Cất cánh bay cao như chim phượng hoàng;Chạy mà không mệt nhọc,Đi mà không kiệt sức.

Isaías 40:31

Tôi tự nhủ: “CHÚA là phần sản nghiệp của tôi,Do đó tôi hy vọng nơi Ngài.

Lamentações 3:24

Linh hồn tôi mòn mỏi mong ước sự cứu rỗi của Chúa;Tôi hy vọng nơi lời Chúa.

Salmos 119:81

Giờ đây, lạy Chúa, tôi trông đợi ai?Niềm hy vọng của tôi ở nơi Chúa.

Salmos 39:7

Lạy CHÚA, mỗi buổi sáng Ngài nghe tiếng tôi,Mỗi buổi sáng tôi dâng lời khẩn nguyện và trông đợi.

Salmos 5:3

Lạy CHÚA, nguyện tình yêu thương Ngài giáng trên chúng tôi,Vì chúng tôi hy vọng nơi Ngài.

Salmos 33:22

CHÚA bảo vệ ngươi khỏi mọi tai họa;Ngài sẽ bảo vệ sinh mạng ngươi.

CHÚA sẽ bảo vệ ngươi khi đi ra, lúc đi vàoTừ nay cho đến đời đời.

Salmos 121:7,8

Không chỉ có thế thôi, nhưng chúng ta cũng hân hoan trong hoạn nạn nữa, vì biết rằng hoạn nạn làm cho chúng ta kiên nhẫn,

kiên nhẫn làm cho chúng ta được tôi luyện, tôi luyện làm cho hy vọng,

Romanos 5:3,4

Soi sáng con mắt trong lòng anh chị em để hiểu thấu niềm hy vọng của ơn Ngài kêu gọi là gì, thế nào là cơ nghiệp giàu có vinh quang của Ngài giữa vòng các thánh,

Efésios 1:18

Trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, chúng tôi nhớ đến công việc anh chị em làm do đức tin, lao khổ anh chị em chịu vì tình yêu thương và lòng kiên trì của anh chị em nhờ hy vọng nơi Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta.

1 Tessalonicenses 1:3

Linh hồn tôi được an bình nơi một mình Đức Chúa Trời,Vì tôi hy vọng nơi Ngài.

Salmos 62:5

Vì vậy, đã được xưng công chính bởi đức tin, chúng ta được bình an với Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta.

Cũng nhờ Ngài chúng ta được vào trong ân sủng này, là ân sủng mà chúng ta hiện đang đứng vững và hân hoan về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Đức Chúa Trời.

Romanos 5:1,2

vì chúng tôi đã nghe nói về đức tin của anh chị em nơi Chúa Cứu Thế Giê-su và về lòng yêu thương của anh chị em đối với tất cả các thánh đồ.

Vì niềm hy vọng dành sẵn trên trời cho anh chị em, điều này anh chị em đã được nghe trước đây trong Đạo chân lý là Phúc Âm.

Colossenses 1:4,5

Xin hướng dẫn tôi trong chân lý Ngài và dạy dỗ tôi.Vì Ngài là Đức Chúa Trời của tôi, Đấng cứu rỗi tôi.Hằng ngày tôi trông cậy nơi Ngài.

Salmos 25:5

Hỡi những kẻ mệt mỏi và nặng gánh ưu tư, hãy đến cùng Ta. Ta sẽ cho các con được yên nghỉ.

Mateus 11:28

Hy vọng bị trì hoãn làm lòng dạ đau đớn;Còn ước vọng thành đạt là cây sự sống.

Provérbios 13:12

Thưa anh chị em, về những người đã ngủ chúng tôi không muốn để anh chị em không biết và đau buồn như những người khác không có hy vọng.

Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giê-su đã chết và đã sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những người đã ngủ trong Đức Giê-su về cùng Ngài.

1 Tessalonicenses 4:13,14

Con hãy truyền bảo những người giàu có ở đời này đừng tự kiêu, đừng đặt hy vọng nơi của cải phù vân, nhưng phải đặt hy vọng vào Đức Chúa Trời là Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta được hưởng.

1 Timóteo 6:17

Vì có niềm hy vọng đó, chúng tôi rất mạnh dạn.

2 Coríntios 3:12

Ca ngợi Đức Chúa Trời là Cha Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta! Vì lòng thương xót lớn lao, Ngài đã cho chúng ta được tái sinh với đầy hy vọng sống nhờ Chúa Cứu Thế Giê-su sống lại từ kẻ chết,

1 Pedro 1:3

Tôi trông đợi, linh hồn tôi trông đợi CHÚA;Tôi trông cậy nơi lời Chúa.

Salmos 130:5

Về phần tôi, tôi sẽ ngưỡng trông CHÚA,Tôi sẽ trông chờ Đức Chúa Trời giải cứu tôi,Đức Chúa Trời tôi sẽ nghe lời tôi cầu khẩn.

Miquéias 7:7

Hãy vui mừng trong niềm hy vọng; kiên trì trong cơn hoạn nạn, kiên tâm cầu nguyện,

Romanos 12:12

Linh hồn chúng tôi trông cậy nơi CHÚA,Ngài là sự tiếp trợ và thuẫn đỡ cho chúng tôi.

Salmos 33:20

Lạy Đức Chúa Trời cứu rỗi của chúng tôi,Ngài sẽ đáp lời chúng tôi bằng sự công chính qua những việc diệu kỳ.Ngài là sự tin cậy của mọi người ở tận cùng trái đấtCũng như ở vùng biển cả xa xăm.

Salmos 65:5

17 Nhờ ngựa chiến để giải cứu là hão huyền,Dù nó có nhiều sức mạnh nhưng không cứu thoát được.

18 Kìa, mắt CHÚA đoái xem người kính sợ Ngài,Và kẻ trông cậy nơi tình yêu thương của Ngài.

19 Để cứu linh hồn họ khỏi chết,Và bảo tồn mạng sống họ trong cơn đói kém.

Salmos 33:17-19

Chỉ mình Ngài sống mãi, không hề chết. Ngài ngự trong ánh sáng không ai có thể đến gần được. Chưa người nào từng thấy Ngài, cũng không ai có thể thấy Ngài được. Ngài được tôn kính mãi mãi, và uy quyền Ngài còn đến muôn đời. A-men.

1 Timóteo 6:16

Nên bây giờ còn ba điều này: Đức tin, hy vọng và tình yêu thương. Nhưng điều lớn hơn hết là tình yêu thương.

1 Coríntios 13:13

Vì người nghèo sẽ không bị lãng quên mãi mãi,Kẻ khốn cùng sẽ không bị tuyệt vọng luôn luôn.

Salmos 9:18

Như thế, được tuyên xưng công chính nhờ ân sủng của Ngài, chúng ta trở nên người kế tự trong niềm hy vọng sống vĩnh cửu.

Tito 3:7