Exortação ao louvor e à obediência
Ao mestre de canto, segundo a melodia "Os lagares". Salmo de Asafe
1 Exultai a Deus, nossa fortaleza;
jubilai
ao Deus de Jacó.
2 Tomai um salmo,
e trazei junto o tamborim,
a harpa suave e o saltério.
3 Tocai a trombeta na lua nova,
no tempo apontado
da nossa solenidade.
4 Porque isto era um estatuto para Israel,
e uma lei do Deus de Jacó.
5 Ordenou-o em José por testemunho,
quando saíra pela terra
do Egito,
onde ouvi uma língua
que não entendia.
6 Tirei de seus ombros a carga;
as suas
mãos foram livres dos cestos.
7 Clamaste na angústia,
e te livrei;
respondi-te no lugar oculto
dos trovões;
provei-te nas águas de Meribá.
(Selá.)
8 Ouve-me, povo meu,
e eu te atestarei:
Ah, Israel,
se me ouvires!
9 Não haverá entre
ti deus alheio,
nem te prostrarás
ante um deus estranho.
10 Eu sou o Senhor teu Deus,
que te tirei
da terra do Egito;
abre bem a tua boca,
e ta encherei.
11 Mas o meu povo
não quis ouvir a minha voz,
e Israel não me quis.
12 Portanto eu
os entreguei aos desejos dos seus corações,
e andaram
nos seus próprios conselhos.
13 Oh!
Se o meu povo me tivesse ouvido!
Se Israel andasse
nos meus caminhos!
14 Em breve abateria
os seus inimigos,
e viraria a minha mão contra
os seus adversários.
15 Os que odeiam
ao Senhor ter-se-lhe-iam sujeitado,
e o seu tempo seria eterno.
16 E o sustentaria com o trigo mais fino,
e o fartaria
com o mel saído da rocha.
Almeida Corrigida Fiel | acf ©️ 1994, 1995, 2007, 2011 Sociedade Bíblica Trinitariana do Brasil (SBTB). Todos os direitos reservados. Texto bíblico utilizado com autorização. Saiba mais sobre a SBTB. A Missão da SBTB é: Uma cópia da Bíblia Fiel ®️ para cada pessoa. Ajude-nos a cumprir nossa Missão!
1 Hãy hát reo cho Đức Chúa Trời là sức lực chúng ta; Hãy cất tiếng la vui vẻ cho Đức Chúa Trời của Gia-cốp. 2 Hãy hát xướng và nổi tiếng trống cơm, Đàn cầm êm dịu với đàn sắt. 3 Hãy thổi kèn khi trăng non, Lúc trăng rầm, và nhằm các ngày lễ chúng ta. 4 Vì ấy là một luật cho Y-sơ-ra-ên, Một lệ do Đức Chúa Trời của Gia-cốp. 5 Ngài lập điều ấy làm chứng cớ nơi Giô-sép, Lúc Ngài ra đánh xứ Ê-díp-tô, Là nơi tôi nghe một thứ tiếng tôi chẳng hiểu. 6 Ta đã cất gánh nặng khỏi vai người; Tay người được buông khỏi cái giỏ. 7 Trong cơn gian truân ngươi kêu cầu, ta bèn giải cứu ngươi, Đáp lại ngươi từ nơi kín đáo của sấm sét, Và cũng thử thách ngươi nơi nước Mê-ri-ba. 8 Hỡi dân sự ta, hãy nghe, ta sẽ làm chứng cho ngươi: ù Y-sơ-ra-ên! chớ chi ngươi khứng nghe ta! 9 Giữa ngươi chẳng nên có thần lạ nào, Ngươi cũng chẳng nên thờ lạy thần kẻ ngoại. 10 Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời ngươi, Đấng đã đem ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô: Hãy hả hoác miệng ngươi ra, thì ta sẽ làm đầy dẫy nó. 11 Nhưng dân sự ta không khứng nghe tiếng ta, Y-sơ-ra-ên không muốn vâng theo ta. 12 Vì vậy, ta buông chúng nó đi theo sự cứng lòng chúng nó, Để chúng nó đi theo mưu kế riêng chúng nó. 13 Oâi! chớ chi dân ta khứng nghe ta! Chớ chi Y-sơ-ra-ên chịu đi trong đường lối ta! 14 Thì chẳng bao lâu ta bắt suy phục các thù nghịch chúng nó, Trở tay ta nghịch những cừu địch chúng nó. 15 Những kẻ ghen ghét Đức Giê-hô-va ắt sẽ suy phục Ngài; Song dân ta sẽ còn đến đời đời. 16 Ta sẽ lấy màu mỡ ngũ cốc mà nuôi họ. Và làm cho ngươi được no nê bằng mật ong nơi hòn đá.
Domínio Público. Esta tradução bíblica de domínio público é trazida a você por cortesia de eBible.org.